Mục đích của Gia Đình Phật Tử Việt Nam:"Đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính – Góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội."
00:38 ICT Chủ nhật, 19/11/2017

Trang nhất » Tin Tức » Tu Học - Huấn Luyện » Tu học Huynh trưởng » Bậc Kiên

Tài liệu Bậc Kiên

Đã xem: 7068

Thứ tư - 04/09/2013 20:05
LỜI TỰA Quyển Bậc Kiên này được biên soạn vào năm 2010 qua sự tham khảo nhiều tài liệu như: Bậc Kiên của Phân Ban GĐPT tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Bậc Kiên của Phân Ban GĐPT Thừa Thiên Huế, Phật Học cơ bản của Ban Hoằng Pháp Trung Ương và sau ngày đại hội Huynh Trưởng GĐPT lần thứ 11 tại Huế vào năm 2011,quyển Bậc Kiên này lại được bổ sung thêm một số chi tiết cần thiết qua tài liệu tu học Bậc Kiên của GĐPT tỉnh Quảng Trị biên soạn theo sự chỉ đạo của GĐPT Trung Ương để làm đề tài chung cho các GĐPT toàn quốc. Đối tượng của quyển Bậc Kiên này là những học viên nên không thể thay thế những bài giảng của các Huynh Trưởng, vì đây chỉ là những bài tóm lược để học viên dễ ghi nhớ. Tuy nhiên với những đề tài thiết yếu thì nội dung vẫn được mở rộng. Chúng tôi hy vọng với quyển sách nhỏ này sẽ giúp học viên dễ dàng học tập và góp phần nào cho sự hướng dẫn của các Huynh Trưởng nhẹ nhàng hơn. BàRịa VũngTàu,ngày 20/8/2011 Ban Tu Thư và Nghiên Huấn GĐPT Tỉnh Bà Rịa VũngTàu
 
 

MỤC  LỤC
 
                                 PHẬT PHÁP – TINH THẦN – LỊCH SỬ
 
Bài số 1 :      Lịch sử Đức Phật Thích Ca – Từ sơ sanh đến xuất gia                      
Bài số 2 :      Lịch sử Đức Phật Thích Ca -  Từ xuất gia đến nhập diệt                 
Bài số 3 :      Tam Quy                                                                                                             
Bài số 4 :      Ngũ giới                                                                                                             
Bài số 5 :      Mục đích Phật Pháp                                                                                          
Bài số 6 :      Học Pháp – Hành Pháp – Nói Pháp                                                                     
Bài số 7 :      Các nét đặc thù của Giáo lý Phật giáo                                                  
Bài số 8 :      Mục đích của GĐPT                                                                                           
Bài số 9 :      Châm ngôn GĐPT                                                                                           
Bài số 10 :   Điều luật của GĐPT                                                                                         
Bài số 11 :   Đức tin của người Huynh trưởng GĐPT                                                    
Bài số 12 :   Năm hạnh của GĐPT                                                                                     
Bài số 13 :   Hạnh hiếu của người Huynh trưởng                                                                  
Bài số 14 :   Tứ trọng ân                                                                                                     
Bài số 15 :    Đạo pháp và dân tộc                                                                                   
Bài số 16 :    Lịch sử Phật giáo Việt Nam
                       – Từ Du nhập đến nhà Tiền Lê                             
                                                                                                
                                HIỂU BIẾT VỀ TỔ CHỨC GĐPT VÀ GIÁO HỘI PGVN
 
Bài số 1 : Nội quy GĐPT
Bài số 2 : Hệ thống tổ chức GHPGVN
Bài số 3 : Ý nghĩa cờ Phật giáo            
 

------------------------------------------------------------------------------------

Bài số 1                      
                 
       LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA 
                       TỪ SƠ SANH ĐẾN XUẤT GIA
 
1-Thân thế của Thái tử Tất Đạt Đa :
Đức Phật Thích Ca tên là Tất Đạt Đa,hiệu Thích Ca một nhánh của họ Kiều Tất La. Hợp cả tên lẫn họ là Kiều Tất La Tất Đạt Đa. Ngài là con vua Tịnh Phạn ,mẹ là hoàng hậu Ma Gia, ở nước Ca Tỳ La Vệ,một nước dưới chân núi Hy mã lạp sơn thuộc đông bắc Ấn Độ,bây giờ thuộc nước Népal.
2-Ngày và chỗ Đản sanh Thái Tử :
Ngài sanh dưới cây Vô Ưu tại vườn Lâm Tỳ Ni,trong khi hoàng hậu đang đi ngoạn cảnh vào buổi bình minh ngày trăng tròn tháng hai Ấn Độ,tức là ngày rằm tháng tư âm lịch, năm 624 trước Tây lịch.
3- Thái tử và lời tiên đoán của A Tư Đà :
Thái tử sanh ra có 32 tướng tốt,ông tiên A Tư Đà đoán tướng Ngài nói rằng : Thái tử có 32 tướng tốt,nếu làm vua thì làm vị Chuyển luân thánh vương, nếu xuất gia tu hành thì sẽ thành Phật tổ.
4- Tài năng và Đức hạnh :
            Sau khi sanh Thái tử được 7 ngày thì hoàng hậu Ma Gia qua đời,để lại cho em gái là bà Kiều Đàm (Gautami) còn gọi là bà Ma Ha Ba xà Ba Đề nuôi dưỡng.Thái tử từ nhỏ đã tỏ ra thông minh xuất chúng,tài giỏi hơn người.Nhưng điều làm cho tất cả mọi người kính trọng quý mến Ngài là đức hạnh của Ngài .
5- Những ràng buộc của vua Tịnh Phạn :
             Sợ Ngài bỏ ngôi báu mà xuất gia,Tịnh Phạn vương tạo ra đủ trò vui thú xa hoa và khi Ngài được 17 tuổi , nhà vua bắt Ngài kết hôn cùng công chúa Da Du Đà La,con vua Thiện Giác rồi sanh một người con tên là La Hầu La. Nhưng Ngài vẫn không say đắm trong cảnh lạc thú,trái lại Ngài vẫn nuôi chí xuất gia tìm đạo cứu đời.
6- Nhận rõ các Tướng khổ ở đời :
              Dù sống trong “ cung vui “ nhưng Thái tử không bao giờ thấy mình được vui. Một hôm Ngài xin vua cha ra dạo 4 cửa thành để giải khuây.  Lần thứ nhất Ngài gặp một người già, lần thứ hai gặp một người bệnh, lần thứ ba gặp một người chết và lần thứ tư Ngài gặp  một vị tu hành tướng mạo uy nghi dáng điệu thanh thoát. Ngài nhận rõ cuộc đời vô thường và nhiều khổ đau nên đã quyết tâm xuất gia để tìm đạo giải thoát.
7- Sự từ bỏ vĩ đại :
         Thế là Ngài xin vua Tịnh Phạn cho mình được xuất gia tìm đạo cứu mình,cứu đời,nhưng vua Tịnh Phạn không bằng lòng. Chí đã quyết,Ngài không thể lùi nên vào một đêm khuya, Ngài đã lặng lẽ giả từ cha già, vợ đẹp, con ngoan trốn ra khỏi thành. Lúc bấy giờ Ngài được 19 tuổi ( Theo Phật giáo Nam Tông là 29 tuổi ) .
 Sự ra đi từ bỏ của Ngài là sự hy sinh từ bỏ vĩ đại,không tiền khoáng hậu,có một không hai trong lịch sử loài người.
        
Bài số 2    
                      LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA
                    TỪ XUẤT GIA ĐẾN NHẬP DIỆT   
1-Thái tử xuất gia ( 8/2 â.l. ) :
 Nửa đêm mùng 8 tháng 2 ( theo Bắc Tông ), Thái tử cùng Xa Nặc thắng ngựa Kiền Trắc vượt cửa thành ra đi. Đến sông Anôma,Ngài cắt tóc giao cho Xa Nặc đem về phụ vương,rồi Ngài cởi áo đổi cho người thợ săn,một mình một thân đi tìm đạo.
2-Thái tử hỏi đạo ( 5 năm ) :
Thái tử hỏi đạo lần thứ nhất : Thái tử đến thành Vương Xá hỏi đạo các vị tiên ở rừng Bạc Già tu theo khổ hạnh.Thái tử nhận thấy tu theo khổ hạnh lên cõi trời cũng sung sướng,nhưng hết phước rồi cũng sẽ bị đọa vào các cõi đau khổ.
- Thái tử hỏi đạo lần thứ hai : Rồi Ngài đến phía Bắc thành Tỳ Xá Ly hỏi đạo ông A La La Kalama,Thái tử tu theo và chứng được cõi trời Vô tưởng,nhưng Ngài nhận thấy cũng chưa phải là đạo giải thoát,nên Ngài từ tạ ra đi.
- Thái tử hỏi đạo lần thứ ba :  Ngài đến hỏi đạo ông Uất đầu Lam Phất, Ngài tu theo và chứng được cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ,nhưng Ngài cũng nhận thấy cõi ấy cũng chưa phải là cảnh giải thoát.
3- Thái tử tu khổ hạnh ( 6 năm ) :Thái tử nghĩ phải chính thân hành trì chuyên tu mới có thể thấy được chánh đạo,Ngài liền đến rừng Ưu lâu tần Loa,phía nam núi Tượng Đầu bên sông Ni Liên Thiền và bắt đầu tu khổ hạnh với 5 người bạn là Kiều Trần Như,Bạt Đề, Đề Bà, Ma ha Nam và Ác Bệ. Ngài tu trong 6 năm,khổ hạnh ép xác,mỗi ngày chỉ ăn một hạt gạo,một hat mè,càng lúc càng gầy mòn,yếu ốm đến nỗi một ngày kia phải té xỉu chết giấc. Khi tỉnh   dậy,  Ngài hiểu rằng hành hạ  xác thân quá đáng không ích lợi gì,  người cầu đạo cần phải thắp sáng trí huệ mới  mong giác ngộ giải thoát nên Ngài nhất định ăn uống trở lại như thường. Năm người bạn đồng tu thấy  vậy tưởng Ngài thối chí nên bỏ đi .
4-Thái tử tham thiền :
         Khi ấy có một thiếu nữ tên Tu Xà Đề( Sujata) đem sữa đến dâng. Ngài dùng sữa xong,sức lực hồi phục,rồi xuống sông Ni liên Thiền tắm rửa sạch sẽ. Tắm xong,Ngài đến dưới cây Bồ Đề, trải cỏ làm nệm và ngồi tham thiền luôn trong 49 ngày.
5- Thái tử thành đạo :
         Ngài định tâm,chuyên chú thiền định. Các ma vương sợ Ngài thành đạo,bèn rủ nhau đến quyến rủ mê hoặc Ngài,nhưng Thái tử định lực cao cường nên chiến thắng tất cả mọi cám dỗ của Ma vương.
         Đến đêm mùng 8 tháng chạp,canh hai Ngài chứng quả Túc mạng minh,canh ba chứng quả Thiên nhãn minh,canh tư chứng quả Lậu tận minh. Đến lúc sao Mai mới mọc, Ngài liền chứng đặng đạo Vô thượng,thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni.
6- Đức Phật đi truyền đạo :
         Sau khi chứng quả, Ngài đến vườn Lộc Uyển thuyết Bốn Đế độ cho nhóm ông Kiều Trần Như. Bắt đầu từ đó mới có đủ Phật, Pháp, Tăng – ba ngôi báu –
         Kế đó, Ngài độ cho một thanh niên tên là Da Xá và chỉ trong ba tháng Ngài có hơn 60 đệ tử. Dưới đây là vài đệ tử có danh được Đức Phật giáo hóa trong khi truyền đạo :
1-      Ông Ca Diếp, vị Tổ sư thờ lửa và các vị đồ đệ của Ông.
2-      Vua Tần Ba Ta La xứ Ma Kiệt Đà.
3-      Ông Mục kiền Liên,thần thông đệ nhất và Ông Xá lợi Phất, trí huệ bậc nhất .
4-       Ông Nan Đà , Ông A nan, Ông Ưu Ba Ly và Ông A Na Luật Đà.
5-      Bà Di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề là người đàn bà đầu tiên được Đức Phật cho vào giáo hội.
6-      Ông Tu Bạt Đà La hơn 80 tuổi là vị đệ tử cuối cùng của Đức Phật.
Đức Phật thuyết pháp giáo hóa trong 49 năm , độ cho hàng vạn ức đệ tử,không phân biệt giàu nghèo sang hèn.
7- Đức Phật nhập niết bàn :
Đến ngày trăng tròn tháng hai Ấn Độ, Ngài biết mình sắp nhập Niết bàn, liền đến xứ Câu Ly, vào rừng Xa Nại, khiến treo võng nơi hai cây song thọ, rồi từ giã mọi người và nhập Niết bàn. Ngài hưởng thọ 80 tuổi. Trước khi viên tịch, Ngài phú chúc cho ông Ca Diếp thọ lãnh y bát của Ngài để truyền đạo.
KẾT LUẬN :
         Đời Ngài từ lúc xuất gia đến lúc nhập diệt là cả một gương sáng tìm đạo,hành đạo,truyền đạo để cứu chúng sanh ra khỏi biển khổ. Ngài cương quyết đoạn tuyệt cảnh đời vương giả, dấn thân trong gian khổ để đi tìm đạo trong 5 năm  rồi lại chuyên tu khổ hạnh hơn 6 năm và tham thiền suốt 49 ngày đêm để đi đến chứng ngộ. Sau đó, Ngài đi thuyết pháp giáo hóa trong 49 năm để truyền bá đạo giải thoát cứu khổ cho chúng sanh.
 
 
 Bài số 3           
                         TAM QUY 
( QUY Y BA NGÔI BÁU )
1-Định Nghĩa : Quy là trở về, y là nương tựa. Quy y Tam Bảo là trở về nương tựa với Phật,Pháp,Tăng sau bao năm tháng vì vô minh che lấp nên bị lạc đường mà trôi nổi trong sanh tử luân hồi chịu nhiều khổ đau.
2- Quy y Phật : Là trở về với Đức Phật, không theo các Thượng đế, tà sư, không theo ma quỷ thiên thần,chỉ nương tựa y cứ theo Đức Phật mà sống, từ lời nói, ý nghĩ cho đến việc làm, nhất nhất đều y cứ vâng theo Đức Phật, noi theo gương mẫu Phật mà làm.
3- Quy y Pháp : Là trở về với Pháp Phật dạy, không theo các ngoại đạo tà giáo, y cứ nương tựa theo những lời dạy của Đức Phật, từ lời nói, ý nghĩ cho đến việc làm, nhất nhất đều y cứ tuân theo đúng như Pháp Phật.
4- Quy y Tăng : Là trở về với Tăng bảo,là đoàn thể Tăng già xuất gia tu hành, không theo các bạn bè độc ác có hại: Từ lời nói, ý nghĩ, việc làm đều noi theo gương mẫu các vị xuất gia hoặc theo lời chỉ bảo của các vị xuất gia.
5- Các thứ bậc Tam Bảo :
         a- Đồng thể Tam Bảo : - Chư Phật và chúng sanh đều có Phật tánh giống nhau nên gọi là “Đồng thể Phật Bảo “  - Chư Phật và chúng sanh cùng có pháp tánh từ bi, bình đẳng nên gọi là “ Đồng thể Pháp Bảo”  - Chư Phật và chúng sanh cùng có thể tánh thanh tịnh nên gọi là “ Đồng thể Tăng Bảo 
         b- Xuất thế gian Tam Bảo : - Đức Phật Thích Ca và các vị Phật khác trong mười phương đã tự giải thoát ra khỏi sự ràng buộc sanh tử của thế gian nên gọi là “ Xuất thế gian Phật Bảo “  - Chánh pháp của chư Phật có công năng làm cho chúng sanh giải thoát khỏi luân hồi của thế gian nên gọi là “ Xuất thế gian Pháp Bảo”  - Các
vị Thánh tăng đã thoát khỏi sự ràng buộc của thế gian như Ngài Quán Thế Âm, Đại Hạnh Phổ Hiền … nên gọi là “ Xuất thế gian Tăng Bảo 
         c- Thế gian trụ trì Tam Bảo : - Xá lợi của Phật, tượng hình Phật … là “ Thế gian trụ trì Phật Bảo “. Kinh sách được in chép là “ Thế gian trụ trì Pháp Bảo” – Chư tăng ni tu hành chân chánh,giới luật trang nghiêm là “Thế gian trụ trì Tăng  Bảo.”
6- Ý nghĩa tam quy : gồm có Sự và lý
         a- Sự quy y Tam Bảo : - Là thực hành quy y bằng sự tướng như cung kính, lễ bái, vâng theo Tam bảo.
-Sự quy y Phật :  – Hằng ngày nhớ tưởng đến Phật, niệm danh hiệu Phật, tỏ lòng cunh kính, nguyện suốt đời theo bước chân Phật trên đường giác ngộ.  – Sự quy y Pháp : Hằng ngày tụng đọc, tìm hiểu kinh điển, trừ bỏ dục vọng, tâm ý sáng suốt, thanh tịnh.  – Sự quy y Tăng : Là lòng tôn trọng, cung kính, cúng dường đối với các bậc Tăng già chân chánh …
         b- Lý quy y Tam Bảo : Là Quy y Tam bảo từ bên trong tâm. Bên trong mỗi chúng sanh đều có đủ Tam bảo, là Tam bảo của chính mình. Lý quy y hay Tam Tự quy là: Tự quy y Phật – Tự quy y Pháp – Tự quy y Tăng.
Tự quy y Phật : Là trở về với Phật tánh sáng suốt của mình  – Tự quy y Pháp:  Là trở về với pháp tánh sẵn có trong tâm mình là : từ bi, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nhục, hỷ xả… - Tự quy y Tăng: Là trở về nương tựa với ông thầy trong  tâm mình, đó là đức tánh thanh tịnh, hòa hợp.
7- Lễ Quy Y : Lễ quy y là buổi lễ quan trọng và có ý nghĩa nhất đối với người Phật tử vì nó đánh dấu một bước ngoặt để chính thức trở thành người Phật tử,là bước khởi hành trên con đường tu tập,hướng tới giác ngộ giải thoát
         - Gột rửa thân tâm thanh tịnh : Sau khi được vị tăng già chân chính chấp thuận nguyện vọng, chúng ta phải sám hối cho 3 nghiệp được thanh tịnh rồi tắm rửa sạch sẽ, y phục trang nghiêm để đến trước Tam bảo thành tâm thọ nhận 3 phép quy y và 5 điều giới cấm do vị tăng thay mặt Tam bảo trao truyền.
         - Phát nguyện : Theo sự hướng dẫn của vị Tăng gọi là Bổn sư truyền giới, người quy y sẽ chí thành đọc các lời phát nguyện sau đây: - Đệ tử suốt đời quy y Phật – Đệ tử suốt đời quy y Pháp -  Đệ tử suốt đời quy y Tăng.
Và nguyện tiếp : - Đệ tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y thiên thần, quỷ vật. – Đệ tử quy y Pháp, nguyện trọn đời không quy y bạn bè xấu ác – Đệ tử quy y Tăng, nguyện trọn đời không quy y bạn bè xấu ác.
         Vị Bổn sư truyền giới đặt cho người quy y một pháp danh. Từ đây, người quy y chính thức là Phật tử.
Những lợi ích của quy y Tam Bảo :
         Trong Ưu Bà Tắc giới kinh có nói: “Vì muốn xa lìa các nạn khổ, dứt trừ các phiền não si mê để đi đến niềm an lạc tịch tịnh vô thượng nên chúng sanh phải quy y Tam Bảo”. Vậy muốn thoát khỏi đường ác để đi vào đường thiện,  muốn giải thoát được khổ đau và tiến dần đến an vui tự tại,chúng ta phải quy y Tam Bảo. Nhưng một điều chúng ta phải ghi nhớ là phải nương tựa cả về Sự lẫn Lý mới được hoàn toàn lợi lạc.
KẾT LUẬN :
         Con người chúng ta bởi mê mờ, mãi miết chạy theo dục vọng, tạo bao nghiệp chướng, quay cuồng trong sanh tử, ngày nay may mắn nhận được đường chơn nẽo chánh mà quay về nương tựa vào 3 ngôi quý báu là Phật Pháp Tăng. Nhờ Đức Phật chỉ đường giác ngộ, nhận lại chân tâm thật tánh, nhờ Phật pháp tẩy rửa dục vọng, lầm mê, nhờ chúng Tăng hướng dẫn học đạo tiến tu, xây dựng cuộc sống an lạc hạnh phúc chân chính cho bản thân, gia đình và xã hội.
 
 
 Bài số 4                           
                       NGŨ GIỚI

I- ĐỊNH NGHĨA :
         Ngũ giới là 5 điều ngăn cấm mà Đức Phật đã chế ra để ngăn những tưởng niệm ác, nói năng chẳng lành và hành động bất chánh.
II- HÀNH TUỚNG 5 GIỚI :
1-Không Sát Sanh : Là không giết hại.
a- Lý do : - Tôn trọng sự sống – Nuôi dưỡng lòng từ bi -Tôn trọng Phật tánh bình đẳng –Tránh quả báo oán thù
b- Ích lợi : - Được an vui – Được sống lâu – Phát triển hạnh từ bi.
2- Không Trộm Cắp : Mọi của cải người khác, người ta không cho thì không được lấy.
a- Lý do : - Tôn trọng sự công bằng – Nuôi dưỡng lòng từ bi – Tránh nghiệp báo oán thù –
b- Ích lợi : Không lo sợ, hồ hộp – Đời sau được giàu sang, được mọi người tín nhiệm , không bị lường gạt.
3- Không Tà Dâm : Là không được ăn chơi hoang đàng trác táng, tà hạnh.
a- Lý do : - Tôn trọng sự công bằng – Bảo vệ hạnh phúc gia đình – Tránh căm thù và quả báo xấu.
b- Lợi ích : Được người đời kính trọng, tín cẩn. Thân thể khỏe mạnh – Đời sau được sanh lên cảnh giới an vui,thanh tịnh.
4- Không Nói Dối  : Là không nói sai sự thật. Nói dối có nhiều cách là : - Vọng ngữ ( nói dối ) - Ỷ ngữ ( Nói thêu dệt ) – Ác khẩu ( nói lời độc ác ) – Lưỡng thiệt ( nói lưỡi hai chiều hay nói đâm thọc )
a-Lý do : Nói dối dưới hình thức nào cũng đều rất tai hại.
a- Lợi ích :  Được mọi người tin cậy, thương yêu – Đời sau được tướng lưỡi viên mãn.
5- Không Uống Rượu :
a-Lý do : - Bảo tồn hạt giống trí huệ - Ngăn ngừa những nguyên nhân gây ra tội lỗi
b-Lợi ích : - Bình tĩnh – Không bị người khinh chê – Đời sau khỏi bị đọa lạc vào nơi tăm tối – Tăng trưởng trí huệ
III- KẾT LUẬN :
         Giới là căn bản của giải thoát và giác ngộ. Những ai đã phát nguyện tiến mạnh trên đường đạo cần phải hành trì giới luật. Đối với người huynh trưởng GĐPT thì việc hành trì 5 giới lại càng quan trọng vì người huynh trưởng cần phải thể hiện nhân cách đầy đủ, trong sáng cho mọi người cảm phục, tin cậy và nêu gương tốt cho các em đoàn sinh noi theo.
 
 
Bài số 5               
                        MỤC ĐÍCH PHẬT PHÁP

       ( Biên soạn theo Phật Học Cơ Bản Tập Một)
I-DẪN NHẬP :
         Đức Phật,tiếng Phạn gọi là Buddha nghĩa là người giác ngộ, người Tỉnh thức, người đã tận diệt tham sân si, đã đạt được giải thoát viên mãn. Đạo Phật là con đường do Đức Phật khai sáng. Có thể nói rằng đạo Phật là phương thức sống để có được hạnh phúc chân thật.
         Người Phật tử quy y Phật, thực tập hành trì tụng kinh, niệm Phật, nghiên cứu kinh điển, tọa thiền … đều có mục đích rõ rệt. Trong kinh Trung A Hàm, Đức Phật dạy để đạt được mục đích chính là : -Tự điều phục để đạt được tự do ở nội tâm – Để đạt được sự thanh tịnh, an lạc – Để đạt được giải thoát, niết bàn.
II- NỘI DUNG :
         1-Tự Điều Phục Mình Để Đạt Được Tự Do : Tự do là khát vọng muôn đời của nhân loại, là nhu cầu thiết yếu sau nhu cầu ăn uống. Xã hội loài người thường có những cuộc nổi dậy tranh đấu đòi quyền tự do, nhưng đó chỉ là tự do bên ngoài. Thế nên, trong các nước được gọi là tự do, nhưng con người vẫn luôn luôn sống trong nô lệ của dục vọng, trong sự trói buộc của tham sân. Do đó, khái niệm về tự do trong đạo Phật là sự cởi bỏ những trói buộc, vướng mắc vào dục vọng, sân hận và hãm hại. Đó là sự tự do ở nội tâm, con người hoàn toàn được an ổn khi tự điều phục được tâm mình.
         Tự điều phục tức là làm chủ được bản thân, là chế ngự được tham dục, sân hận, ác ý. Đức Phật dạy: Người Phật tử có khả năng tự điều phục mình thì dù những mưu cầu lợi lộc, công danh, sự nghiệp, xây dựng tình yêu có bị thất bại, bị thay đổi thì người ấy vẫn an ổn, vững chãi, không bị ưu sầu phiền muộn, khóc than … Đó là mục đích thứ nhất của Đạo Phật.
         2- Để Đạt Được Sự Thanh Tịnh An Lạc : Sự an lạc tùy thuộc vào tư duy, cảm xúc của con người. Nếu tâm tư của một người bị chi phối, bị chế ngự bởi sự lo lắng, buồn rầu, sợ hãi thì họ không thể có an lạc. An lạc và hạnh phúc đi đôi với nhau; hạnh phúc có hay không tùy thuộc vào thái độ tâm lý ổn định hay không. Một người mạnh mẽ và giàu có, nhưng trong lòng sôi sục dục vọng hay hận thù thì người ấy không thể có sự an lạc và hạnh phúc. Một người đầy danh vọng và thành đạt mà trong lòng bị chế ngự bởi sự lo lắng bất an, sợ hãi thì không thể có hạnh phúc được. Đức Phật dạy: Một người đạt được sự thanh tịnh, an lạc là người khi có điều không vui đến, những điều lo âu sợ hãi đến thì không bị chúng chi phối, vướng bận. Theo lời kinh Pháp Cú, Phật dạy :”Không có hạnh phúc nào lớn bằng sự yên tĩnh của tâm trí.” Đây là mục tiêu thứ hai của đạo Phật.
         3- Để Đạt Được Giải Thoát, Niết Bàn : Mục đích tối hậu của mọi người Phật tử là: Chấm dứt mọi đau khổ, thoát ly sanh tử luân hồi, thành tựu trí tuệ viên mãn. Nỗi khổ thật sự và lâu dài chính là vô minh, đó là đáo bỉ ngạn, là” vô minh diệt minh sanh”.
KẾT LUẬN :
         Mục đích có 3, nhưng có thể chia làm 2 phần: mục đích gần và mục đích xa. Gần là vươn tới đời sống tự do và hạnh phúc; xa là đạt đến an lạc vĩnh cửu niết bàn. Giáo lý Đức Phật giúp con người kềm chế, làm chủ bản thân. Đây là bước đầu, là nền tảng của mọi đức hạnh, mọi tiến bộ; từ đó thực hiện sự thanh tịnh và an lạc của tâm linh, chuyển hóa toàn bộ đời sống đã từng mang bất an và đau khổ, trở nên an ổn và hạnh phúc. Nói mục đích gần và xa là để dễ hiểu, thực ra cả hai là một. Có được an lạc hạnh phúc thì dẫn đến giải thoát niết bàn. Niết bàn được thực hiện ngay cõi đời này, chứ chẳng đâu xa.
 
 
Bài số 6          
                      HỌC PHÁP – HÀNH PHÁP – NÓI PHÁP
 
I- DẪN NHẬP : Phật Pháp ra đời và lưu truyền ở thế gian là vì lợi ích và an lạc hạnh phúc cho loài người và chúng sanh. Vì vậy người Phật tử có nhiệm vụ phải thực hiện 3 hành động: Học pháp, hành pháp và nói pháp.
II- CHÁNH ĐỀ :
1-  Học Pháp : Đạo Phật là đạo giác ngộ nên trí huệ được coi trọng bậc nhất. Người Phật tử phải xây dựng niềm tin vào Tam Bảo trên căn bản trí huệ.
         Phật pháp là chân lý cao siêu huyền diệu, người Phật tử cần phải am hiểu Phật pháp, nếu không sẽ dễ bị sai lầm và rơi vào mê tín dị đoan. Muốn am hiểu Phật pháp để thực hành không lệch lạc, người Phật tử cần phải học Phật pháp. Phương pháp học Phật là áp dụng ba nguyên tắc cơ bản đối với tất cả pháp môn gọi là ba môn huệ học: Văn huệ, Tư huệ và Tu huệ.
Văn huệ : Là trí huệ có được nhờ vào sự nghe lời thuyết giảng, tiếng tụng, mắt đọc văn tự, xem hình ảnh, nghiên cứu kinh điển mà lãnh hội ý nghĩa, phát sanh trí huệ.
Tư Huệ : Là trí huệ nhờ vào quá trình tư duy, xét đoán, trầm tư về những lời dạy của Đức Phật. Đây là giai đoạn tiếp theo văn huệ, tư duy những gì đã nghe được, đọc được như tư duy về giáo lý Tứ Đế, Thập nhị nhân duyên…
Tu Huệ : Khi đã có văn huệ, tư huệ thì đem áp dụng vào cuộc sống và tu tập, hành trì thông qua thiền định  hoặc các pháp môn khác để thể nhập chân lý giác ngộ giải thoát.
         Việc tu học Phật pháp theo ba phương pháp Văn, Tư, Tu là rất quan trọng, nhất là đối với người huynh trưởng cần phải không ngừng học pháp để tăng trưởng niềm tin, mở mang trí huệ và làm lợi khí trên đường hoạt động GĐPT.
2- Hành Pháp : Phật pháp là chân lý do chính Đức Phật khám phá ra, người nào muốn giác ngộ chân lý phải trải qua quá trình thực chứng như Đức Phật. Phật pháp còn là những phương tiện tu hành để đoạn trừ phiền não khổ đau, là con đường đến đích giác ngộ. Phật pháp còn là thiện pháp tức là các phép tắc đạo đức. Ai sống có đạo đức thì xứng đáng nhân cách và an lạc, hạnh phúc. Người Phật tử cần phải thực hành, ứng dụng Phật pháp vào đời sống cá nhân và xã hội. Có như thế thì Phật pháp mới thật sự lợi ích cho đời và cần tồn tại lưu truyền trên thế gian. Thực hành Phật pháp, sống pháp còn là một hình thức phổ biến Phật pháp, là một hình ảnh tiêu biểu sống động để xiển dương và lưu hành Phật pháp.Sách Trí Độ Luận có ghi:” Phật pháp quý trọng sự thực hành chứ không quý trọng sự nói suông”
         Đối với người huynh trưởng GĐPT, sự hành trì Phật pháp, sống Đạo là vô cùng quan trọng, bởi vì cuộc sống bản thân, gia đình, xã hội của người huynh trưởng không phải chỉ là thể hiện kiến thức Phật pháp mà chính là tấm gương sáng về nhân cách đạo đức cho các em noi theo tu học. Thân giáo của người huynh trưởng là cơ sở đáng tin cậy nhất đối với phụ huynh và quần chúng.
3-Nói Pháp ( Hoằng Dương Phật Pháp ): Đạo Phật ra đời là để mưu cầu hạnh phúc cho số đông, đem vui bớt khổ cho mọi loài, mọi người. Vì vậy Phật pháp phải được truyền khắp dân gian và mãi mãi về sau. Hoằng dương và lưu truyền chánh pháp là nhiệm vụ chính yếu của các bậc xuất gia, đồng thời cần sự hỗ trợ hữu hiệu của hàng Phật tử tại gia. Xiển dương Phật pháp thì tùy năng lực, hoàn cảnh, tâm nguyện của mỗi người, có thể thực hiện bằng mọi cách như đi chùa, tụng kinh, thờ Phật, bố thí, cúng dường cho đến tạo tượng, đúc chuông, xây chùa…, nhưng chỉ có diễn nói Phật pháp mới là hình thức quan trọng và ảnh hưởng sâu rộng hơn cả.
Các nguyên tắc diễn nói Phật pháp là: - Phải am hiểu Phật pháp – Phát tâm từ bi, không cầu danh, không vụ lợi – Diễn nói hợp cơ, đúng thời, ngôn ngữ thích nghi – Thực hành tứ nhiếp pháp – Tự mình sống đúng chánh pháp. Đối với người huynh trưởng GĐPT, việc giảng dạy Phật pháp là công việc trọng tâm và quan trọng nhất trong các hoạt động nên cần phải lưu tâm và thận trọng.
III- KẾT LUẬN :
          Để đền đáp công ân cao cả của Đức Phật, người huynh trưởng phải siêng năng tu học và nỗ lực thực hành Phật pháp, góp phần truyền bá sâu rộng và trường tồn cho mọi người được giác ngộ giải thoát. Phật dạy: “Trong tất cả sự cúng dường, cúng dường chánh pháp là hơn hết”. Cúng dường chánh pháp là tự mình sống đúng chánh pháp và khuyên người khác sống đúng chánh pháp”.
 
 
                                                           
Bài số 7
                   CÁC NÉT ĐẶC THÙ CỦA GIÁO LÝ PHẬT GIÁO
     Phật giáo có rất nhiều đặc điểm khó có thể nói đầy đủ như từ bi hỷ xả, tự do, tự lực, không chấp thủ, tùy duyên bất biến…Nhưng chúng ta có thể nêu lên mấy đặc tính đặc thù và nổi bật bao trùm trong tất cả mọi giáo pháp.
1- Khế Lý ( Đúng chân lý) : Có thể nói đây là đặc tính cơ bản nhất của Phật pháp vì đạo Phật là đạo giác ngộ, đạo của trí tuệ nên đề cao chân lý lên hàng đầu. Tất cả những giáo lý mà đức Phật thuyết minh chỉ dạy đều được căn cứ vào sự thật là nhờ ánh sáng trí tuệ và công phu tu chứng của Ngài đã phát hiện. Ngài chứng ngộ thật tướng như thế nào thì Ngài nói như thế đó chứ Ngài không sáng tạo do tưởng tượng thêm bớt để bày đặt ra lý thuyết mơ hồ mê hoặc chúng sanh. Lời dạy của Đức Phật luôn luôn đúng sự thật, giáo lý của đạo Phật là phù hợp chân lý. Nói khác đạo Phật chính là chân lý, là sự thật của vũ trụ và nhân sinh, là đạo chánh tín và đức Phật được gọi là đấng chánh biến tri.
2- Khế cơ ( Phù hợp với căn cơ từng hạng người) : Sau khi thành đạo dưới cội Bồ Đề, đức Phật đắn đo suy nghĩ : Giáo lý của Ngài chứng ngộ hết sức vi diệu, còn tâm tánh chúng sanh thì quá u tối mê mờ, cang cường khó dạy khó sửa, nhưng rồi Ngài quán sát và nhận thấy: Tuy chúng sanh tâm trí mê mờ, tánh tình, trình độ thấp cao, sâu cạn khác nhau, nhưng ít nhiều đều có thể tiếp nhận giáo lý và có thể giác ngộ, giống như trăm ngàn hoa sen kia đều mọc lên từ bùn nhưng  nhờ ánh sáng mặt trời đều vươn lên và tỏa sắc hương tinh khiết. Từ đó đức Phật quyết định vân du khắp chốn và tùy duyên thuyết pháp độ sanh. Đó là lý do khiến Phật pháp có hàng vạn pháp môn là để thích ứng với căn cơ trình độ của muôn loài, nhưng Phật pháp vẫn luôn luôn đúng chân lý, không hề rời xa mục đích tối hậu là giác ngộ giải thoát, cho nên nói Phật pháp tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên.
3- Khế thời ( Phù hợp thời cơ, hoàn cảnh ): Phật pháp có thể ứng dụng phù hợp trong bất cứ không gian và thời gian nào, bất cứ xứ sở và thời đại nào.
         Nhờ tính cách thế thời mà Phật pháp không những đã lan truyền rộng khắp trong thời Phật còn tại thế, mà cả sau khi Phật nhập diệt Phật giáo còn vượt ra ngoài Ấn Độ để xiển dương mạnh mẽ khắp châu Á, Viễn Đông. Đến đâu Phật pháp đều được các dân tộc tiếp nhận với tinh thần tự nguyện tự giác, dung thông và hòa hợp trở thành tôn giáo của dân tộc, nét văn hóa tiêu biểu và bản sắc tinh thần của dân tộc đó. Hơn 25 thế kỷ trôi qua, nền văn minh nhân loại đã đến đỉnh cao, nhưng Phật pháp không những không lỗi thời mà còn phát triển sáng lạng hơn trên khắp thế giới. Có thể nói Phật pháp là ánh sáng vô tận và bất diệt soi đường cho mọi loài, xuyên suốt mọi thời đại và mọi chân trời.
4- LÀ PHƯƠNG TIỆN ( Để Đạt Đến Cứu Cánh Là Giác Ngộ Giải Thoát ) :
         Phật pháp tuy rất bao la, cao siêu và mầu nhiệm, nhưng đều là những phương tiện có tác dụng và công năng đưa con người đến mục đích tối thượng là giác ngộ chúng sanh. Trong kinh Kim Cang, Đức Phật dạy :” Giáo pháp của Đức Phật ví như chiếc bè đưa người qua sông” và trong kinh Viên Giác cũng có ghi: “Hết thảy kinh điển như ngón tay chỉ mặt trăng”. Có thể nói Phật pháp là con đường dẫn con người đến giác ngộ, là những phương thuốc chữa lành bệnh chúng sanh, Phật pháp là những phương pháp thực hành để thanh lọc thân tâm, khơi nguồn trí tuệ, là lối sống chân thật cao thượng, là những chất liệu an toàn để mọi người xây dựng một xã hội bình đẳng, đầy tình thương, bình an và hạnh phúc.
5- TÍNH CHẤT NHÂN BẢN : Nhân bản là tính chất ưu việt, nổi bật và vĩnh cửu của giáo lý đạo Phật. Đặc điểm nhân bản được thể hiện qua nhiều khía cạnh như đạo Phật lấy con người làm gốc, con người là đối tượng giáo hóa của Phật pháp, và trước sau Phật pháp chỉ một mực mưu cầu hạnh phúc an lạc cho con người.
         Trong khi các tôn giáo đương thời khác áp đặt cuộc đời và số phận con người vĩnh kiếp dưới gót chân của thần linh với nhiều từ gọi là thượng đế, tạo hóa, đấng sáng thế, thiên chúa …Các trào lưu tư tưởng tôn giáo thần quyền hàng ngàn năm thống trị, nhận chìm con người dưới hố sâu nô lệ, triền miên khổ nhục thì giáo lý đạo Phật đã mở ra cho nhân loại một chân trời bừng sáng với lời tuyên ngôn vĩ đại, minh định giá trị cao quý của con người: “Chỉ có con người mới có khả năng tự định đoạt số phận mình bằng sự nổ lực tự thân để đạt đến tri thức, phát hiện chân lý, chứ không do một ai khác”. (Kinh Hoa Nghiêm). Đức Phật xác định khả năng giác ngộ của con người vì: “Mỗi chúng sanh đều có Phật tánh”. Đức Phật lại khẳng định Phật và chúng sanh đồng một thể tánh không khác: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”.
         Giáo lý nhân bản và chúng sanh bình đẳng tánh của đạo Phật là một tư tưởng hết sức cấp tiến đã giải phóng tư tưởng loài người ra khỏi sự kềm hãm của các trào lưu tư tưởng thần quyền, nâng con người lên ngang hàng với “Thượng đế”. Tinh thần nhân bản của đạo Phật rất cần được áp dụng cho lợi ích hạnh phúc của con người. 
6-TÍNH CHẤT THỰC NGHIỆM :Giáo pháp của Phật không phải là những lý thuyết siêu hình chỉ có giá trị văn chương mà xa rời thực tế, giáo pháp đạo Phật nhằm vào sự thực hành để chuyển hóa hoàn cảnh và xây dựng cuộc sống an lạc. Trong kinh Hoa Nghiêm Phật dạy: nếu học hỏi nhiều mà không thực hành thì cũng như không 
học hỏi. Như người nói ăn mà không ăn thì không bao giờ no được”. Luận Đại Trí Độ cũng nhấn mạnh :”Phật pháp quý trọng sự thực hành chứ không quý trọng sự nói suông”.
         Cho nên nói Phật pháp là phương tiện, là con đường TRI và HÀNH để đưa con người đến mục đích giác ngộ giải thoát.
KẾT LUẬN : Một lý thuyết dù cao siêu đến đâu mà không đúng chân lý và không thể ứng dụng vào thực tế thì nó sẽ thiếu nền tảng, là không tưởng và vô ích. Phật pháp thì không như thế, Phật pháp tuy siêu huyền, khó hiểu nhưng có những đặc điểm cơ bản rất phù hợp với khoa học là hợp chân lý, hợp cơ và khả thi rất thích hợp với tư tưởng tiến bộ của loài người. Do đó giáo lý đạo Phật không mê tín hay lạc hậu lỗi thời mà càng ngày càng chinh phục rất nhiều triết gia, nhiều nhà khoa học, đạo đức, giáo dục, chính trị trên thế giới. Đạo Phật đang được ngày càng truyền bá rộng rãi khắp nơi.
 
Bài số 8           
                      MỤC ĐÍCH CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
I-SỰ XÁC LẬP VÀ PHÁT HUY MỤC ĐÍCH CỦA GĐPT QUA CÁC THỜI KỲ :
         Từ sơ khởi đến nay, GĐPT đã trỉ qua nhiều thời kỳ biến đổi. Mỗi lần như thế thì quy trình tổ chức, nội dung, chương trình tu học đều có sự cải đổi, trong đó phần mục đích GĐPT cũng ít nhiều được tu chỉnh sửa chữa.
         Trong thời kỳ Tiền thân GĐPT khởi đầu là Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục ra đời năm 1940,mục đích của đoàn được xác định là: “Để người thanh niên nghiên cứu học tập thực hành theo giáo lý đạo Phật, tu sửa mình cho thanh cao, nêu gương tốt và phổ biến đạo đức Phật giáo ra ngoài xã hội”. Khi các đoàn viên Phật học Đức Dục thành lập các đơn vị Gia Đình Phật Hóa Phổ thì mục đích được xác lập là: “Đào tạo những Phật tử chân chính xây dựng hạnh phúc gia đình trên nền luân lý Phật giáo”
         Đến năm 1951,hội nghị các Gia Đình Phật Hóa Phổ cả nước thống nhất đổi tên thành Gia Đình Phật Tử, thiết lập nội quy, chương trình tu học thì mục đích GĐPT  được xác định: “Mục đích GĐPT là huấn luyện thanh thiếu đồng niên Phật tử về 3 phương diện trí dục, đức dục, thể dục trên nền tảng Phật giáo để đào tạo những Phật tử chân chánh”.
         Đại hội GĐPT vào năm 1958 đã tu chỉnh mục đích: “Mục đích của GĐPT là đào tạo những thanh thiếu và đồng niên Phật tử thành những Phật tử chân chánh để phục vụ chánh pháp và thành những hội viên xứng đáng của hội” . Đại hội năm 1964,mục đích được tu chỉnh cô đọng là: “Đào luyện thanh thiếu đồng niên thành Phật tử chân chánh, góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Phật giáo”.
         Năm 2001, Hội nghị Huynh trưởng cấp Dũng, Tấn GĐPT toàn quốc tại chùa Từ Đàm- Huế, mục đích của GĐPT được thêm bớt một số từ ngữ cho phù hợp. Mục đích GĐPT là: “Đào luyện Thanh,Thiếu,Đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chánh- Góp phần phụng sự Đạo pháp và xây dựng xã hội”.
II- TÍNH CHẤT CƠ BẢN CỦA MỤC ĐÍCH GĐPT :
         Mục đích GĐPT mang nội dung giáo dục trên nền tảng tinh thần giáo lý đạo Phật. Đạo Phật xuất hiện ở đời là mưu tìm an lạc, hạnh phúc cho chúng sanh. Muốn có an lạc hạnh phúc thì mỗii con người phải chuyển hóa tâm ý mình cho thuần lương, sống thiện và có đạo đức. Vì vậy mục đích chính của đạo Phật là nhằm giúp con người chuyển hóa tự thân  và cải tạo xã hội. Riêng đối tượng của GĐPT chỉ giới hạn trong đối tượng thanh thiếu đồng niên GĐPT qua các bộ môn đều là phương tiện nhằm thực hiện mục đích giáo dục của Phật giáo.
III- PHÂN TÍCH MỤC ĐÍCH CỦA GĐPT :
         Mục đích GĐPT hàm chứa rõ rệt 2 phần nội dung là phần tự lợi và lợi tha:
- Phần tự lợi là phần đào luyện tự thân để lợi ích cho chính bản thân người đoàn viên GĐPT. Thành Phật tử chân chánh là đã quy y Tam Bảo, giữ 5 giới và tu tập theo 5 hạnh của chư Phật và Bồ tát là: Tinh tấn, hỷ xả, thanh tịnh, trí huệ, từ bi.
– Phần lợi tha là phần đem lại lợi ích cho người khác, đem lại niềm vui cho tha nhân và cộng đồng. Phụng sự đạo pháp là hết mình phục vụ Giáo hội với tinh thần bất vụ lợi. Phục vụ Giáo hội như hỗ trợ đời sống Tăng Ni, đóng góp công sức tiền của cho các hoạt động của chùa và giáo hội, góp công truyền bá chánh pháp đến mọi người, tham gia các tổ chức giáo hội… Xây dựng xã hội là hoàn thành tốt công việc của người dân, đem lại nhiều lợi ích và niềm vui chung cho xã hội bằng cuộc sống tròn đầy 5 giới để xã hội bớt đi tội ác, tăng thêm điều lành và thực hành 5 hạnh để đem lại an lạc, hạnh phúc cho mọi người chung quanh.
IV- KẾT LUẬN :
         Mục đích của GĐPT được xây dựng trên nền tảng giáo lý đạo Phật. Huynh trưởng và đoàn sinh phải am hiểu và tin tưởng để cùng nhau nỗ lực tinh tấn,kiên trì tu học, sống và phụng sự với tất cả tinh thần để thực hiện mục đích cao cả của GĐPT.
 
                                                                                
Bài số 9                            
                         CHÂM NGÔN GĐPT
Châm ngôn là một câu nói ngắn gọn nêu lên những điều làm chuẩn mực, gương mẫu về đạo đức, phẩm hạnh, lối sống, tinh thần cao thượng nhằm khuyến hóa, khích lệ con người làm theo để trở thành con người đức hạnh, có giá trị. Châm ngôn GĐPT là BI TRÍ DŨNG
I- LÝ DO CHỌN BI TRÍ DŨNG LÀM CHÂM NGÔN :
         GĐPT là một tổ chức giáo dục dựa trên nền tảng giáo lý đạo Phật, mà giáo lý đạo Phật rất mênh mông, nhưng có thể bao quát vào 3 điều căn bản nhất là Từ bi, Trí huệ và Dũng lực gọi tắt là Bi Trí Dũng mà bài tựa kinh Lăng Nghiêm nói là Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi.
II- Ý NGHĨA BI TRÍ DŨNG :
         1- Bi : Nói đầy đủ là từ bi. Từ có nghĩa là cho vui tất cả chúng sanh. Bi nghĩa là Diệt khổ cho tất cả mọi loài. Từ bi là lòng thương yêu rộng lớn cao cả vô biên thúc đẩy con người đem tất cả khả năng, nghị lực để cứu giúp tất cả mọi người, mọi loài thoát khổ được vui. Đức Phật ra đời rồi từ bỏ ngôi báu xuất gia tìm đạo, trải qua muôn vàn đau khổ là bởi lòng thương tưởng vô tận đối với mọi loài chúng sanh đang triền miên sống trong tăm tối đau khổ. Cho nên đạo Phật gọi là đạo từ bi và người Phật tử noi gương đức Phật lấy từ bi làm một trong các đức hạnh căn bản cho mình. Trên cơ sở ấy, GĐPT nhằm giáo dục, huân tập cho đoàn sinh hình thành và tăng trưởng lòng thương cao thượng của chư Phật, muốn cho đời được tốt đẹp an lạc, cứu khổ đem vui cho mọi loài, mọi người.
         2-Trí : Đạo Phật là đạo giác ngộ, đức Phật là hiện thân của giác ngộ, của trí huệ nên lấy trí huệ làm gốc. Trí huệ là hiểu biết sáng suốt, đúng đắn, cùng khắp, nhận chân sự thật. Trí huệ là yếu tố quan trọng, là điều kiện bậc nhất để con người phân biệt chân vọng, chánh tà, thiện ác, phá trừ bóng tối của si mê lầm lạc, giác ngộ chân lý, lìa khổ được vui, vì thế đạo Phật còn gọi là đạo Như Thật.
         Do đó GĐPT rèn luyện đoàn sinh biết trau dồi, phát huy trí tuệ, cầu tiến và tiến mãi, có trí óc sáng suốt để xét đoán sự vật, sự việc chính xác, tôn trọng sự thật không mê tín, ý nghĩ lời nói việc làm luôn phân minh hợp lẽ, hợp tình, không manh động sai lầm bởi mù quáng cuồng si.
         3- Dũng : Dũng lực hay hùng lực là dũng mãnh tiến lên không yếu đuối hèn nhát, luôn chịu khó, nhẫn nại, can đảm siêng năng, không ngừng tiến bước trên con đường giác ngộ.
         Nhờ có dũng lực thì bên trong mới tự chiến thắng mình, uốn dẹp phiền não, tham sân si và bên ngoài thì vượt qua mọi trở lực khó khăn. Chính đức Phật bằng dũng lực vô song mới có thể xả bỏ quyền uy sang quí với ý chí kiên cường chiến thắng tất cả ma vương để thành chánh giác, rồi vượt qua muôn ngàn gian khổ để thuyết pháp độ sanh, đem lại an lạc cho đời. Đức Phật quả là biểu tượng sáng ngời của tinh thần Đại Dũng nên đạo Phật còn được gọi là Đạo Hùng Lực.
         GĐPT lấy dũng lực làm châm ngôn nhằm hun đúc cho đoàn sinh có tinh thần trong sáng, thanh cao, có ý chí dũng mãnh, có nghị lực kiên cường làm sức mạnh tinh thần để kiềm chế dục vọng, ngăn chận các thói hư tật xấu, chiến thắng trước cám dỗ của cuộc đời, không chùn bước trước những khó khăn, kiên trì chịu đựng gian khổ, bất khuất trước nghịch cảnh, mỉm cười với ngang trái.
III- SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA  BI TRÍ DŨNG:
         Ba đức tính BI TRÍ DŨNG liên quan mật thiết, bổ sung lẫn nhau không thể thiếu một, mới tạo thành sức mạnh toàn diện của đạo Phật và làm cho cuộc sống con người đầy đủ ý nghĩa. Nếu chỉ có BI mà thiếu TRÍ và DŨNG thì con người dễ bị lầm lạc, bi lụy yếu hèn. Nếu chỉ có TRÍ HUỆ mà không có BI DŨNG thì chỉ là cái trí khô khan, lạnh lùng, ích kỷ hẹp hòi. Nếu chỉ có DŨNG mà không có TỪ BI, TRÍ HUỆ thì không thể giác ngộ chân lý, chỉ là cái DŨNG mù quáng, dễ manh động, bạo tàn. BI TRÍ DŨNG hòa hợp là một sức mạnh vô song làm động cơ hướng thiện, hướng thượng con người và thăng hoa cho cuộc sống.Vậy có thể tóm tắt rằng: Sự kết hợp chặt chẽ hài hòa giữa 3 yếu tính BI TRÍ DŨNG mà GĐPT chọn lựa làm châm ngôn trên lộ trình tu học để sống cuộc ĐỜI trong ĐẠO và đem ĐẠO vào ĐỜI một cách trọn vẹn theo tinh thần giáo lý Đạo Phật : Lấy Từ bi làm động lực, lấy Trí huệ làm đèn hướng dẫn, lấy Dũng lực làm đà tiến thủ.
IV- ÁP DỤNG CHÂM NGÔN BI TRÍ DŨNG :
         Lý thuyế dẫn đường cho hành động. Lý thuyết đúng thì hành động không sai lầm. Chọn BI TRÍ DŨNG làm châm ngôn, GĐPT đã vận dụng sáng tạo, khéo léo vào tổ chức, san định chương trình tu học và đời sống sinh hoạt của mỗi đoàn sinh.
         Về tổ chức thì BI TRÍ DŨNG đã hàm chứa trong mục đích, trong huy hiệu hoa sen và cô đọng trong điều luật của GĐPT… Để thực hiện mục đích, GĐPT đã thiết lập các hệ thống chương trình tu học phù hợp với tâm sinh lý từng ngành với các bộ môn chính yếu là Phật pháp, HĐTN,  Xã hội và Văn nghệ mà nội dung các bài học, các hoạt động đều bàng bạc tinh thần BI TRÍ DŨNG. Nói cách khác BI TRÍ DŨNG là tinh thần chủ đạo của chương trình tu học GĐPT.
V- KẾT LUẬN :
         Mục đích trước hết của đạo Phật là hoàn thiện con người để cải tạo hoàn cảnh và xay dựng xã hội đầy tình thương, bình đẳng và an lạc, trong đó ba đức tính BI TRÍ DŨNG là động lực chủ yếu và là chất liệu cơ bản cho mọi hành động. Là một tổ chức giáo dục thuộc GHPGVN, Gia Đình Phật Tử rất đúng đắn và tự hào khi chọn     BI TRÍ DŨNG làm châm ngôn hoạt động.
 
 
 
Bài số 10                        
                              ĐIỀU LUẬT CỦA GĐPT
I-DẪN NHẬP :
         GĐPT là một tổ chức giáo dục có mục đích hướng thanh thiếu nhi Phật giáo tới lý tưởng giác ngộ đã được tổng hợp qua châm ngôn BI TRÍ DŨNG. Tuy vậy,GĐPT cần thêm yếu tố tinh thần khác để hổ trợ việc triển khai thực hiện mục đích, châm ngôn cho có hiệu quả. Một trong các yếu tố tinh thần quan trọng làm nền móng cho đường hướng giáo dục tu học GĐPT là ĐIỀU LUẬT. Đó là những qui định mà mọi người trong tổ chức đều phải tôn trọng tuân giữ không vi phạm mới thật sự xứng đáng là người Huynh trưởng, đoàn sinh GĐPT.
II- ĐIỀU LUẬT CỦA GĐPT :
         Đại hội Gia Đình Phật Hóa Phổ toàn quốc năm 1951 đổi thành danh hiệu GĐPT thì Điều Luật được tu chỉnh gồm 8 điều chia ra hai lứa tuổi.
- Luật của Thanh Thiếu niên nam nữ: ( gồm 5 điều)
         1-Phật tử quy Phật Pháp Tăng và giữ giới đã phát nguyện.
         2- Phật tử mở rộng lòng thương tôn trọng sự sống.
         3- Phật tử trau dồi trí tuệ, tôn trọng sự thật.
         4- Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần từ lời nói đến việc làm
         5- Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo.
- Luật của Đồng niên nam nữ Phật tử : ( có 3 điều)
         1- Em tưởng nhớ Phật.
         2- Em kính mến cha mẹ,thuận thảo với anh chị em.
         3- Em thương người và vật.
Hội nghị Huynh trưởng cấp Dũng, cấp Tấn năm 2001 tại chùa Từ Đàm Huế đã tu chỉnh Nội Quy. Lần này, điều luật vẫn được giữ nguyên, chỉ xác định rõ thêm”Luật của Huynh trưởng và đoàn sinh Thanh Thiếu niên” và ở điều 2, luật của Oanh vũ có thêm chữ Và. Điều Luật này vẫn được dùng đến hiện nay :
A-Điều Luật của Huynh Trưởng và đoàn sinh Thanh Thiếu niên :
1- Phật tử quy y Phật Pháp Tăng và giữ giới đã phát nguyện.
2-… 3-… 4-… 5- … ( giống như đoạn trên)
B-Điều Luật của Đồng niên ( Oanh vũ ):
1- Em tưởng nhớ Phật.
2- Em kính mến cha mẹ và thuận thảo với anh chị em.
3- Em thương người và vật.
III- GIẢI THÍCH NỘI DUNG CÁC ĐIỀU LUẬT : ( Trích giải theo Phật pháp ngành Thiếu của Hòa Thượng Thích Minh Châu)
1-Phật tử quy y Phật Pháp Tăng: Là tôn Phật, Pháp, Tăng làm thầy, trọn đời quy ngưỡng. Không theo Thượng đế, tà sư, không theo ngoại đạo tà giáo, không theo bè đảng độc ác.
- Giữ giới đã phát nguyện: Giới là giới luật của Đức Phật chế ra như 5 giới của người tại gia. Trong 5 giới cấm( tự nguyện và tùy sức) đã thọ giới nào thì triệt để theo, không lúc nào tái phạm. Nếu có trái phạm thì phải làm lễ sám hối rồi cầu xin giữ lại.
2- Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống: Phật tử thực hiện hạnh từ bi, mở rộng lòng thương cùng khắp mọi người, mọi loài là tôn trọng sự sống của tất cả sinh vật. Phật tử tôn trọng sự sống nghĩa là không giết hại mạng sống của bất cứ sinh vật nào dù đó là những sinh vật nhỏ nhiệm. Phật tử giữ giới không sát hại và ăn chay cũng là giữ điều luật này.
3- Phật tử trau dồi trí tuệ tôn trọng sự thật : Phật tử dùng trí tuệ để tìm hiểu, học hỏi, dùng lý trí để xét đoán, không mê tín dị đoan. Phật tử tôn trọng sự thật nghĩa là biết phụng sự lẽ phải và sự thật, không xuyên tạc sự thật để mưu cầu danh lợi hay để bênh vực lòng tự ái của mình.
4- Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm: Phật tử thực hành hạnh thanh tịnh, giữ gìn thân thể, lời nói, ý nghĩ, không làm các điều ác, chỉ nghĩ và làm những điều thiện có lợi mình và lợi người.
5- Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường đạo: Phật tử thực hành hạnh hỷ xả và tinh tấn. Phật tử sống hỷ xả là luôn luôn hoan hỷ vui vẻ, dù gặp những nghịch cảnh trở lực. Phật tử tinh tấn trên đường đạo, không dừng nghỉ, không thoái thoát. Phàm làm việc gì thì làm kỳ cùng cho đến khi thành tựu mới thôi, dù gặp nghịch cảnh trở lực, Phật tử phải luôn luôn gắng sức để vượt qua.
Riêng với ngành Oanh: Các em tuổi nhỏ, tâm hồn còn ngây thơ trong trắng nên cần gieo niềm tin đạo pháp, đời sống tâm linh và huân tập những đức tính tốt căn bản. Những điều mà các em cần huân tập lúc này chỉ là những hành động thực tế đơn giản, đối tượng của các em thì rất gần gũi thân cận nhưng gắn bó với các em suốt đời. Đó là đức Phật, biểu tượng cho tình thương bao la và trí tuệ vô biên, là cha mẹ với tình thương và công ơn vô hạn, là những người thân thiết chung quanh cũng như các thú vật mà các em tiếp xúc hàng ngày.
IV- KẾT LUẬN:
         Trong đạo, giới luật là mạng mạch của Phật pháp, là sinh mạng của Tăng già, giới luật còn thì Phật pháp tồn tại. Cũng như vậy, Điều Luật là tinh hoa cốt lõi, là giá trị tinh thần của GĐPT. Nếu điều luật bị xem thường, Huynh trưởng và đoàn sinh phóng túng thì bản thân mỗi đoàn viên không còn danh dự và tổ chức bị tổn thương, sớm muộn phải tan rã. Vì thế, muốn cho GĐPT được trường tồn, tất cả huynh trưởng và đoàn sinh hãy khắc cốt ghi tâm, triệt để tôn trọng và thực hành đúng theo điều luật cao quý cua GĐPT.
 
 
Bài số 11 
                       ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG GĐPT
I- DẪN NHẬP :
         Trước khi nhập diệt, Đức Phật còn độ cho ông Tu Bạt Đà La, là một ông già Bà La Môn trên 80 tuổi. Đức Phật đã dạy ông này rằng: “Đừng tin ai cả, dù là lời phát ngôn của một vị giáo chủ, dù là lời được truyền tụng lâu đời hay được các người truyền giáo nói ra. Ngươi chỉ theo lý trí của ngươi. Ngươi hãy suy nghiệm, so sánh thực hành rồi biết tin bên nào. Đó là lời nói cởi mở, đầy tính chất dân chủ và chính lời nói đã là phương châm cho người Phật tử trong vấn đề Đức Tin.
II- CHÁNH ĐỀ :
1-Tại sao phải đặt vấn đề Đức Tin ? Đức tin rất cần thiết cho con người sống vững giữa cuộc đời ô trọc khổ đau. Giữa thời đại mà có nhiều lý thuyết nảy sinh, các lý thuyết cổ truyền hình như bị lung lay, bị phá đỗ, các lý thuyết cạnh tranh giành giật nhau để chiếm phần thắng lợi. Ngay cả Phật giáo, vàng thau lẫn lộn. Đạo Phật bị xuyên tạc, bị lợi dụng làm nhiều người rất hoang mang.
Khi bắt đầu vào cuộc đời huynh trưởng, mỗi người ít nhiều cũng đặt niềm tin vào đạo Phật, vào GĐPT nhưng chỉ mới là niềm tin và qua thời gian, niềm tin ấy đã được tăng trưởng, được bồi đắp để vững mạnh hơn và trở thành “Đức Tin”.
2- Là Phật tử phải tin như thế nào? Trong lúc tin cần phải tránh 2 cực đoan :
a/- Tin vội theo tình cảm, không suy xét thì dễ đưa đến mê tín, dị đoan.
b/- Tin theo thực nghiệm quá sẽ sùng bái khoa học, sẽ rơi vào hố tôn thờ vật chất.
Do đó, chúng ta cần phải biết phân biệt chánh tín và mê tín. Chánh tín là đức tin đã được lựa chọn sau khi đã suy nghĩ, nhận định, phân tích, tìm hiểu và áp dụng vào đời sống; còn mê tín là tin tưởng một cách vội vàng, mù quáng, không cần suy xét, phân tích, buông xuôi theo tình cảm.
3- Người Huynh trưởng tin những gì?
a- Tin vào cuộc đời Đức Phật: Đức Phật không phải là vị thần thánh chuyên ban phúc giáng họa, mà cũng từng là con người, Ngài đã băn khoăn về nỗi đau khổ của con người, đã thắc mắc ưu tư về cuộc sống bất bình đẳng của xã hội, cái đọa đầy của kiếp sống. Ngài cảm thấy xót thương, Ngài muốn đưa chúng sanh ra khỏi cuộc sống đau khổ, ra khỏi trầm luân nên Ngài đã xuất gia tìm đạo. Ngài đã thực nghiệm, đã chịu đựng nhiều thử thách gian lao trước khi đi đến quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác. Chúng ta tin rằng Ngài là người đã chiến thắng và hoàn thành Đại nguyện giải thoát, cứu khổ chúng sanh.
b- Tin vào giáo pháp của Phật: Giáo lý của Ngài là chân lý do Ngài chứng nghiệm, là kết quả tu chứng của bản thân Ngài. Giáo lý ấy hẳn nhiên đáng làm cho chúng ta tin chắc, tin vững. Một vài giáo pháp tối sơ như nhân quả, luân hồi, vô thường, vô ngã càng đáng cho chúng ta vững lòng tin.
c- Tin ở năng lực chúng ta: Đức Phật đã từng bảo: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Lời dạy này đã dặt địa vị con người lên mức quan trọng, vì giác ngộ chỉ được thành tựu bởi năng lực của con người, chứ không do cầu xin mà được.Đức Phật cũng từng là con người như chúng ta và nhờ tinh tấn không ngừng mà đạt đến giác ngộ
 vô thượng. Chúng ta cũng có thể như Ngài, đây là điểm đặc biệt nhất của Phật giáo, là niềm tin tưởng vô biên vào con người, cũng là hình ảnh của tiến bộ.
d-Tin ở Gia Đình Phật Tử: Đã hơn nửa thế kỷ, GĐPT vẫn vững mạnh và ngày càng phát triển, mặc dù đã trải qua nhiều cơn sóng gió, là vì tổ chức này đã thực hiện được mục đích của mình”Đào tạo Phật tử chân chánh, góp phần phụng sự đạo pháp, xây dựng xã hội”. Người huynh trưởng luôn luôn cần cù nhẫn nại thực hiện sứ mệnh giáo dục của mình. Mấy mươi năm qua, GĐPT đã đào tạo biết bao lớp Phật tử thuần thành, hiểu sâu giáo pháp, trung kiên với đạo, những con người đức hạnh và là những công dân tốt, tận tụy với công việc, trong lãnh vực nào cũng là con người tích cực làm việc hết khả năng. GĐPT đã đem đến cho chúng ta một cuộc sống lành mạnh, an vui giữa cuộc đời xô bồ tranh chấp và lắm điều điên đảo. Vì lẽ đó, chúng ta nhận GĐPT là lý tưởng của mình.
III- KẾT LUẬN :
         Có người cho rằng: Tôn giáo là bùa mê thuốc lú làm chết tinh thần con người. Tư tưởng này rất có lý là khi nào tôn giáo xây dựng trên lời cầu xin, khi tâm hồn con người phóng ngoại. Nhưng tư tưởng này không thể áp dụng cho Phật giáo vì Phật giáo lấy con người làm căn bản, lấy sự tinh tấn làm môi giới cho giác ngộ. Chúng ta cần có đức tin, nhưng đức tin sáng suốt đúng như lời đức Phật đã căn dặn: “Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”.
 
 
Bài số 12 
                       NĂM HẠNH CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

I- DẪN NHẬP : Điều kiện tiên quyết và căn bản nhất của người Phật tử là quy y Tam Bảo và thọ trì năm giới cấm. Quy y Tam Bảo là khởi điểm chuyển hóa cuộc đời. Tuân giữ 5 giới để ngăn ngừa tội lỗi, là căn bản giác ngộ giải thoát. Ngoài 5 giới cấm, người Phật tử còn thực hành NĂM HẠNH nhằm trau dồi nhân cách và tăng trưởng hạnh nguyện rộng lớn lợi lạc quần sanh.
II- PHÂN BIỆT GIỚI VÀ HẠNH :
         Giới là phòng bị, răn cấm. Giới là những điều luật Phật chế ra để đối trị, ngăn ngừa ý nghĩ, lời nói, việc làm bất chánh, tội ác. Người Phật tử phải giữ 5 giới cấm căn bản.
         Hạnh là đức tính tốt đẹp, nguyện lực rộng lớn để trang sức thêm đức độ, trau dồi thêm tinh thần trong sáng thanh cao đem lại lợi ích cho người và vật.
III- HÀNH TƯỚNG VÀ Ý NGHĨA NĂM HẠNH :
         Một Phật tử chân chánh cần phải thực hành 5 hạnh mà chư Phật đã vạch ra. Đó là: Tinh tấn, hỷ xả, thanh tịnh, trí huệ và từ bi.
1-      Tinh tấn : Nghĩa là luôn luôn tiến trên con đường trong sạch, trên con đường đạo. Tượng trưng hạnh tinh tấn là Đức Thích Ca Mâu Ni.
2-      Hỷ xả : nghĩa là luôn luôn vui vẻ, hoan hỷ, biết hy sinh, biết xả bỏ để làm cho mọi người, mọi loài được vui vẻ. Thấy người làm việc lành hoặc được người khen thì vui vẻ, tán thành, không ganh ghét, tức bực. Gặp người xúc phạm, không tức giận, trái lại dùng lời hiền dịu giải thích. Tượng trưng hạnh hỷ xả là Đức Phật Di Lặc.
3-      Thanh tịnh : nghĩa là trong sạch từ thân thể đến lời nói, ý nghĩ , việc làm và sống một đời giản dị, thanh bạch. Tượng trưng hạnh thanh tịnh là Đức Phật A Di Đà.
4-      Trí huệ : Là hiểu biết đúng đắng, không sai lầm, hiểu cùng khắp tất cả. Tượng trưng hạnh trí huệ là Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
5-      Từ bi : Là đem vui cứu khổ cho mọi người, mọi loài. Người Phật tử sống theo hạnh từ bi là luôn luôn cứu giúp mọi người, mọi loài sống hạnh phúc.Tượng trưng hạnh từ bi là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
IV- GĐPT ÁP DỤNG NĂM HẠNH VÀO TU HỌC :
         Đặc trưng của giáo dục GĐPT là lý thuyết đi đôi với thực hành. Nhằm thúc đẩy tác động đoàn sinh ghi nhớ và luôn thực hành Năm Hạnh, GĐPT đã vận dụng rất chặt chẽ và nhuần nhuyễn vào tất cả các mặt tổ chức, tu học và sinh hoạt.
1-Ứng dụng vào lý thuyết cơ bản: Chúng ta sẽ rất dễ dàng nhận thấy Năm Hạnh được nội hàm trong các phần lý thuyết căn bản về đường hướng giáo dục GĐPT,đó là: - Mục đích – Châm ngôn – Điều luật – Khẩu hiệu.
2-Ứng dụng vào chương trình tu học và sinh hoạt: Có thể nói tất cả chương trình tu học các cấp các ngành và mọi sinh hoạt GĐPT đều quay quanh châm ngôn Bi Trí Dũng, đồng thời quy hướng vào việc thực hành Năm Hạnh.
3-Ứng dụng vào Huy hiệu Hoa Sen- Biểu tượng của GĐPT: Biểu tượng cho Hạnh Tinh tấn là cánh hoa chính giữa tượng trưng cho đức Phật Thích Ca giáo chủ cõi Ta bà. Hạnh hỷ xả được biểu tượng bằng cánh sen kề bên trái cánh chính giữa( ở ngoài nhìn vào), tượng trưng dức Phật Di Lặc. Hạnh Thanh tịnh là cánh sen liền kề bên phải cánh Tinh Tấn, tượng trưng đức Phật A Di Đà. Kề phía ngoài cánh hỷ xả là cánh Trí huệ, biểu tượng Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Kề phía ngoài cánh Thanh tịnh  là cánh Từ bi biểu tượng hạnh nguyện của Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát.
III- KẾT LUẬN : Hình thức tôn kính đức Phật chính đáng nhất của người Phật tử là làm theo lời Phật dạy, noi gương và học tập những hạnh nguyện rộng lớn của đức Phật mà Năm Hạnh là những đức tính tiêu biểu.GĐPT tôn vinh Năm Hạnh nhằm giáo dục đoàn sinh học tập, huân đúc tinh thần, hoàn thiện nhân cách và làm bậc thang tiến bước trên đường giác ngộ giải thoát.
 
 
Bài số 13  
                            HẠNH HIẾU CỦA NGƯỜI HUYNH TRƯỞNG
I-MỞ ĐẦU:
         Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống về đạo hiếu rất sâu đậm. Từ khi mở mắt chào đời, em bé Việt Nam đã được giáo dục rất kỷ lưởng về đạo hiếu qua lời ru của mẹ, chẳng hạn như:
         “Công cha như núi Thái Sơn
         Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
         Một lòng thờ mẹ kính cha
         Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”
         Đối với đạo Phật, người Huynh trưởng cũng nhận  rất nhiều lời dạy dỗ của đức Thế Tôn về đạo hiếu. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, đức Phật dạy: Thờ Trời Đất Quỉ Thần không bằng hiếu thảo với cha mẹ, vì “Tâm hiếu là Tâm Phật, Hạnh hiếu là Hạnh Phật”.
II- CHÁNH ĐỀ :
         a-/ Chữ hiếu rất quan trọng đối với người tu Phật: Lòng hiếu hạnh của dân tộc Việt Nam đã được nâng cao khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam. Trong kinh Phân Biệt, Đức Phật bảo: “Ta trải qua nhiều kiếp tinh tấn, nay mới thành Phật, toàn là công ơn của cha mẹ. Vậy nên người muốn học đạo, không thể không tinh tấn hiếu thảo với cha mẹ.”
         Cha mẹ là hai thửa phước điền cho người con gieo trồng phước báu. Nếu người con biết thờ kính cha mẹ, biết khai thác hai thửa ruộng phước này chắc chắn sẽ thu được rất nhiều quả lành và ngược lại nếu bất hiếu với cha mẹ thì là một tội lỗi lớn lao và sẽ nhận lấy hậu quả vô cùng đen tối. Kinh Nhẫn Nhục có ghi: “Cùng tột điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tột điều ác không gì hơn bất hiếu.” Kinh điển Phật giáo nói đến rất nhiều về công ơn cha mẹ. Trong kinh Tăng Chi tập 1 có ghi: “Này các Tỳ kheo! Có hai hạng người khó có thể trả ơn được là cha và mẹ. Này các Tỳ kheo! Nếu một bên vai cỏng mẹ, một bên vai cỏng cha suốt trăm năm, đấm bóp thoa xức, tắm rửa va dù cho cha mẹ có tiểu hoặc đại tiện trên thân mình cũng chưa gọi là đền ơn một cách đầy đủ.” Vậy muốn báo đáp công ơn cha mẹ một cách đầy đủ thì phải làm thế nào?
         b-/ Cách thể hiện lòng hiếu thảo của người tu Phật: Đức Phật dạy:” Những ai đền ơn cha mẹ bằng cách nuôi dưỡng, cúng dường vật chất chưa gọi là trả ơn đầy đủ. Này các Tỳ kheo! Những ai tích cực khuyến khích, hướng dẫn và an trú cha mẹ vào lòng tin, vào thiện giới, vào bố thí, vào trí tuệ thì gọi là hành động trả ơn cha mẹ một cách đầy đủ!” Như vậy, cách báo hiếu theo đạo Phật phải gồm đủ 2 phần: Vật chất và tinh thần.
         - Về vật chất thì phải lo hầu hạ, phụng dưỡng cha mẹ đầy đủ để cha mẹ được an vui lúc già yếu.
         - Về tinh thần thì phải thường xuyên khích lệ, trợ duyên cho cha mẹ hiểu đạo, biết tránh điều ác, làm điề lành và tiến gần đến giải thoát an vui.
         Tinh thần hiếu thảo của dân tộc Việt Nam đã được kết hợp hài hòa từ tư tưởng hiếu thảo của đạo Nho đến tư tưởng hiếu thảo của đạo Phật. Người dân Việt Nam tiếp nhận sâu đậm tư tưởng hiếu thảo qua hai nền văn hóa nói trên và đã luôn luôn nhớ đến công ơn sâu dày của cha mẹ, thương yêu cha mẹ thiết tha và phụng dưỡng cha mẹ đã trở thành nhiệm vụ thiêng liêng của mỗi con người Việt Nam.
III- KẾT LUẬN :
         Tóm lại, người Huynh trưởng muốn báo hiếu cha mẹ một cách trọn vẹn thì ngoài việc cung dưỡng vật chất cho cha mẹ, còn cần phải cung dưỡng về tinh thần, phải gầy dựng cho chính mình và cha mẹ mình một nghiệp lành trong cuộc sống, đó mới là đem đến cho cha mẹ một niềm an vui thật sự và vững bền.
 
 
                                                                                      
  Bài số 14              
                              TỨ TRỌNG 

                  ( Bốn Ân Trọng Của Người Phật Tử)
I-  DẪN NHẬP: Làm người ở đời, được sống, thành đạt chút gì ở xã hội đều nhờ công ơn của nhiều người trong xã hội đóng góp. Đối với Phật tử, ngoài các công ơn của mọi người, của xã hội còn phải chịu ơn của Tam Bảo. Là người, ta phải biết”ăn quả nhớ người trồng cây”, ta nên tìm hiểu cặn kẻ các sự gia ân và phải biết cách thức đáp đền các công ơn ấy.
II-HÀNH TƯỚNG BỐN ÂN: Gồm có ân cha mẹ, ân thầy bạn, ân quốc gia xã hội, ân Tam Bảo.
1-ÂN CHA MẸ : Cha mẹ đã sinh sản ra ta, nuôi dạy ta từ thuở ấu thơ đến trưởng thành. Cha mẹ đã không ngại khổ cực, luôn luôn hy sinh để con được ấm no đầy đủ. Công ơn cha mẹ đối với ta thật như trời biển.
     Cách báo đáp: - Hiếu hạnh – Tôn trọng danh dự - Hiển danh cha mẹ - Khuyến hóa ( khuyến khích cha mẹ làm việc thiện, quy y Tam Bảo…)
2-ÂN THẦY BẠN: Kiến thức, sự hiểu biết, sự thành đạt của ta đều nhờ công ơn dạy bảo, dìu dắt, hướng dẫn của Thầy học, bạn bè.
     Cách báo đáp: - Siêng năng học tập – Cung kính lễ độ- Thực hành lời Thầy dạy, lời bạn khuyên -Khuyến hóa.
3- ÂN QUỐC GIA XÃ HỘI: Đời sống của ta, từ miếng ăn thức uống, thuốc men cho đến sự an ninh trật tự của bản thân cùng gia đình ta đều nhờ ơn của nhiều tầng lớp trong xã hội: Từ người nông phu, công nhân, thợ thuyền, thầy thuốc đến các cơ quan nhà nước, quân đội, cảnh sát…ngay cả đến súc vật cũng đóng góp cho ta rất nhiều trong đời sống.
     Cách báo đáp:  - Tròn bổn phận công dân – Phát triển văn hóa – Phát triển kinh doanh sự nghiệp – Sống giản dị, tiết kiệm, tương thân tương ái.
4- ÂN TAM BẢO: Là Phật tử, ngoài những ân trọng kể trên, ta còn chịu ân Tam Bảo vì Đức Phật, vị giáo chủ của chúng ta đã vì thương chúng sinh nên đã rời bỏ Ngai vàng, chịu khổ cực đói khát… đã xuất gia tìm đạo và truyền đạo, giúp chúng sinh thoát khỏi khổ đau. Chúng ta lại nhờ Pháp bảo mới biết đường lối tu hành, chứng cảnh thanh tịnh an vui, nhờ Tăng bảo tức các vị xuất gia tu hành, sống theo giáo pháp, giới luật của Phật và với sứ mệnh mang giáo pháp của Phật truyền dạy, hướng dẫn ta, chỉ đường cho ta thoát khỏi khổ đau.
      Cách báo đáp: - Học và hành lời Phật dạy – Hộ trì Phật pháp – Cung kính cúng dường.
KẾT LUẬN :
        Là Phật tử phải biết bốn ân và phải tìm cách đền đáp bốn ân. Muốn vậy, người Phật tử phải nhận rõ: Chỉ có SỐNG ĐÚNG THEO LỜI PHẬT DẠY và KHUYẾN HÓA MỌI NGƯỜI MỌI LOÀI ĐỀU SỐNG THEO LỜI PHẬT DẠY là cách đền ơn quý hóa,thiết thực và đúng với bản nguyện của chư Phật,chư Bồ Tát.
        Người huynh trưởng GĐPT với nhiệm vụ hướng dẫn, dạy dỗ các em đoàn sinh, trước hết cần nêu gương tốt, tỏ ra mình hiểu biết và thể hiện tinh thần báo đáp bốn ân. Ngoài ra còn phải luôn động viên, khuyến khích các em luôn luôn hiếu thảo với cha mẹ, chăm lo học tập, kính trọng thầy giáo, thương yêu bạn bè, làm người dân tốt trong xã hội, tu học và làm theo lời Phật dạy. Hoàn thành được nhiệm vụ cao quý đó, chúng ta đã một phần báo đáp bốn ân
 
Bài số 15                   
                          ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC
        Nước Việt Nam ta có 4000 năm văn hiến kể từ khi vua Hùng Vương bắt đầu dựng nước. Phật giáo truyền vào nước ta từ thế kỷ thứ hai và đạo Phật đã thực sự đồng hành cùng dân tộc Việt Nam suốt 20 thế kỷ qua kể từ khi du nhập.
1- Những thể hiện đồng hành của Phật giáo và dân tộc:
        - Từ thời kỳ đất nước còn sơ khai, các tu sĩ Phật giáo luôn có mặt đi đầu trong công cuộc dựng nước và giữ nước( như Khuông Việt Thái sư đời nhà Đinh, thiền sư Pháp Thuận đời vua Lê Đại Hành, thiền sư Khánh Vân, Vạn Hạnh đời nhà Lý…) Đến thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, các tu sĩ Phật giáo vẫn luôn có mặt trong hàng ngũ kháng chiến. Điều này chứng tỏ Phật giáo luôn cùng dân tộc chia sẻ hoạn nạn, buồn vui trong từng vận mệnh của đất nước.
         - Giáo lý đạo Phật gần gũi với truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: Hiền hòa, tương thân tương ái, siêng năng cần cù, quảng đại tha thứ, dũng cảm …- Giáo lý Phật giáo đã dần dần thấm sâu vào đời sống của nhân dân qua các tập tục như: Tục trồng cây nêu, tục Vu Lan báo hiếu, tục cầu an cầu siêu… Về ngôn ngữ, những câu nói trong cửa chùa đã trở thành câu nói cửa miệng dân gian như: Hằng hà sa số, tội nghiệp, đầu thai, nghiệp chướng, ta bà thế giới…
         - Các ngôi chùa Phật giáo cũng như đời sống các vị Thiền sư luôn gần gũi với cuộc sống của nhân dân, cùng chịu chung số phận của nhân dân trong thời kỳ vui buồn của đất nước. Ngôi chùa Việt Nam ngoài nhiệm vụ
tâm linh còn là nơi nương náu bình an cho cho những người dân bị thiên tai, bị nạn chiến tranh. – Tiếng chuông chùa là tiếng đồng hồ chính xác cho sinh hoạt của làng quê, đồng thời nó còn là âm thanh gợi lên lòng yêu thương, nhung nhớ quê nhà đối với những người lữ khách tha hương…
         - Nền văn học Việt Nam còn lưu lại những tác phẩm Phật giáo bất hủ như: Quan Âm Diệu Thiện,Quan Âm Thị Kính, Mục Liên Thanh Đề… Trong kho tàng cổ tích Việt Nam, Bụt( Phật) là nhân vật xuất hiện như một vị cứu tinh mang lại điều lành và cứu giúp cho những người gặp điều bất hạnh. – Từ lâu dân tộc ta đã có những câu ca dao, tục ngữ thành ngữ thể hiện rõ rệt sự hòa nhập sâu sắc thấm nhuần đạo Phật và dân tộc như:- Đất vua chùa làng, phong cảnh bụt - Hiền như bụt – “Dù xây chín đợt phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người
         - Phật giáo thấm nhuần vào cách suy tư và sinh hoạt của người Việt nên dấu vết Phật giáo trong văn hóa Việt khá đậm nét. Nhiều người Việt ăn chay vào ngày mồng một hay ngày rằm. Lễ Vu Lan Bồn trong kinh điển Phật giáo đã trở thành truyền thống hằng năm thấm đượm tình cảm sâu sắc ý nhị của dân tộc ta.
            Còn rất nhiều điều để chứng minh sự hòa quyện của tinh thần Phật giáo với nếp sống dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa đến nay. Phật giáo đã đi sâu vào đời sống người dân Việt như nước hòa với sữa, đến nỗi chúng ta tưởng chừng đạo Phật là đạo của dân tộc Việt Nam, chứ không phải là một tôn giáo đến từ nước Ấn Độ xa xôi.
2- Đạo Phật gắn liền với lịch sử đất nước và dân tộc:
a-Về tư tưởng, phong hóa chính trị: Vào khoảng thế kỷ thứ II dương lịch, Phật giáo đã trở nên thịnh hành ở nước ta với trung tâm” Luy Lâu”, là một trung tâm Phật giáo lớn và hình thành sớm nhất tại vùng Viễn Đông. Các Thiền sư Phật giáo đã sát cánh cùng nhân dân trong buổi đầu dựng nước qua các triều đại nhà Đinh, Lê, Lý, Trần. Từ đó, hình ảnh cũng như giáo lý Phật giáo đã trở nên thân thiện và được toàn dân tôn kính tiếp nhận.
   Thiền sư Ngô Chân Lưu được vua Đinh tín trọng và cử chức vụ tối cao là Khuông Việt Thái Sư, đến đời vua Lê Đại Hành, Ông vẫn tiếp tục giúp vua trong việc quân cơ chính trị. Thiền sư Pháp Thuận trước tình trạng đất nước lâm nguy sau cái chết của Đinh Tiên Hoàng, đã giúp vua Lê Đại Hành nắm lấy quyền bính, tập trung sức mạnh toàn dân kháng chiến chống xâm lược Tống, bảo vệ đất nước thành công. Thiền sư Vạn Hạnh đã khéo léo tiến hành cuộc vận động đưa Lý Công Uẩn lên ngôi thay thế Lê ngọa triều, cứu muôn dân khỏi lầm than và đưa đất nước vào thời kỳ cường thịnh. Có thể khẳng định rằng đạo Phật đã góp phần không nhỏ un đúc sức mạnh tinh thần dân tộc, đưa đến các chiến công hiển hách bảo vệ đất nước, mở mang bờ cõi vào các thời Lê, Lý, Trần mà hầu hết các vị vua anh hùng, các tướng tài thao lược từng được giáo huấn trong môi trường Phật giáo như Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ, Lý Thái Tôn, Lý Thánh Tôn, Lý Nhân Tôn, Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tôn, Trần Nhân Tôn… là những tên tuổi sáng ngời tiêu biểu.
   Chính đạo Phật thông qua các Thiền sư thạc đức, với tinh thần hòa hợp khoan dung rộng rãi mở đường và khuyến khích cho Nho học phát triển bằng cách mở trường Hán học đào tạo nhân tài. Chính các lớp Nho sĩ đầu tiên là do các Thiền sư đào tạo nên. Thiền sư Tuệ Tỉnh, Hãi Thượng Lãn Ông là những đại y sư xây dựng nền y học dân tộc.
   Như vậy, Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời Lý Trần, Phật giáo phát triển rực rỡ, được coi là quốc giáo. Đến đời Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đầu thế kỷ 17, vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, nhưng vì mất sớm nên không đem lại nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù bị ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu.
b- Về văn hóa: Có thể nói đóng góp to lớn và đặc sắc nhất của đạo Phật cho đất nước là về văn học nghệ thuật. Dân tộc ta tự hào có một gia tài văn học quý báu, nhất là văn học cổ thì phần lớn phát xuất từ cửa chùa do các Thiền sư sáng tác mà đặc biệt là thơ văn đời Lý Trần vừa đa dạng về thể loại vừa thâm thúy về nội dung. Nhiều bài thi kệ phú thời Lý Trần vừa thâm trầm triết lý đạo Phật lại biểu thị bản sắc dân tộc lẫn giá trị cao về văn học, mãi đến nay vẫn còn được truyền tụng như bài”Cành Mai” của Thiền sư Mãn Giác là một điển hình.
   Chữ Nôm, quốc ngữ cổ của Việt Nam qua quá trình hình thành, phát triển cũng nhờ công đóng góp to lớn của các Thiền sư nhà Trần. Nhiều kinh sách tác phẩm bằng chữ Nôm đã được các nhà sư sáng tác góp phần làm giàu thêm cho nền văn hóa nước nhà.
   Đạo Phật cũng đã góp phần thúc đẩy phát triển các ngành nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc, chạm, đúc đồng, nghề in… Chùa Một Cột, tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn, Tuọng Thập Bát La Hán ở chùa Tây Phương hiện còn là những tác phẩm điêu khắc đặc sắc, là niềm tự hào chung của dân tộc.
3- Đạo Phật sẽ tồn tại mãi mãi cùng dân tộc, tiếp tục góp phần xây dựng đất nước tiến lên:
   Cùng hòa nhập trong lòng dân tộc, gắn bó với lịch sử đất nước ngót 2000 năm, qua bao thăng trầm, đạo Phật Việt Nam luôn luôn đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, chưa một lần nào trong lịch sử phản bội đất nước, đi ngược truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Bất kỳ thời kỳ nào cũng có những Phật tử làm tròn nhiệm vụ với đất nước, tận tụy cống hiến tài đức bảo vệ dân tộc, xây dựng đất nước theo đúng tinh thần đạo Phật. Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn độc lập, Phật giáo Việt Nam đã tiến tới thống nhất cả nước vào năm 1981, thành lập GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, tạo tiền đề cho sự nghiệp hoằng dương đạo pháp, phụng sự dân tộc, xây dựng đất nước, tiến lên sánh vai cùng nhân loại. Tóm lại, lịch sử Phật giáo Việt Nam đã trải qua 4 giai đoạn:
a-      Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc: Là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp.
b-      Từ Nhà Lý- Nhà Trần : Là giai đoạn cực thịnh.
c-      Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19: Là giai đoạn suy thoái.
d-      Từ đầu thế kỷ 20 đến nay: Là giai đoạn phục hưng.
Người Phật tử với Đạo pháp và dân tộc:
a-      Đối với đạo pháp: Người Phật tử không những chỉ học tập giáo lý mà còn tìm hiểu lịch sử đạo Phật nước nhà, hành động và sống theo giáo lý, xây dựng chánh tín, ra sức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, hoàn thiện nhân cách người Phật tử. Ngoài ra phải biết hoằng dương chánh pháp và tùy sức tùy hoàn cảnh mà người Phật tử góp sức bảo vệ đạo pháp, chống mê tín dị đoan, bảo vệ và xây dựng chùa chiền di tích văn hóa lịch sử, cúng dường Tam Bảo, tham gia các hoạt động Phật sự tại địa phương.
b-      Đối với đất nước: Phải tìm hiểu lịch sử nước nhà để có lòng tự hào và yêu nước, trung thành với tổ quốc, trân trọng giữ gìn tài sản văn hóa và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, sống đúng pháp luật, trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật, tu dưỡng đạo đức, phát huy nghề nghiệp, liêm khiết và tận tụy với công việc mà xã hội đã phân công để góp phần cùng toàn dân xây dựng đất nước phồn vinh và hạnh phúc.
KẾT LUẬN:
         Đạo Phật và dân tộc Việt Nam đã có truyền thống gắn bó tương quan mật thiết suốt 2000 năm thăng trầm của lịch sử. Đạo Phật đã đóng góp đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Đạo Phật luôn tồn tại trong lòng dân tộc Việt Nam và trường tồn cùng sự phát triển đất nước. Vì vậy người Phật tử chung tay xây dựng đất nước là phụng sự đạo pháp, và ngược lại bảo vệ, phát huy đạo Phật là thể hiện nhiệm vụ của người Phật tử yêu nước.
 
Bài số 16
                            LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
                           Từ Du Nhập Đến Nhà Tiền Lê
I-THỜI KỲ DU NHẬP :
         1-Con Đường Du Nhập: Vị trí địa lý của nước ta nằm ở bán đảo Đông Dương, trên con đường giao thông đường bộ cũng như đường thủy giữa 2 lục địa , nơi sản sinh những nền văn minh lớn của loài người là Ấn Độ và Trung Quốc. Do đó, từ rất sớm, qua con đường buôn bán các nền văn hóa của 2 chiếc nôi văn minh này đã đi theo các đoàn thương nhân đến với nước ta, trong đó có Phật giáo. Theo các nhà nghiên cứu mới đây tjì Phật giáo Ấn Độ du nhập vào nước ta chủ yếu theo đường biển, một phần khác là theo đường bộ, con đường mà các nhà sử học thường gọi là “con đường tơ lụa”
         2-Niên Đại Du Nhập: Theo truyền thuyết thì người Phật tử đầu tiên của Việt Nam mà chúng ta được biết là Chữ Đồng Tử học đạo với nhà sư Phật Quang vào thế kỷ thứ II-III trước Dương lịch và với sự kiện Bát Nhàn phu nhân, một nữ tướng của Hai Bà Trưng xuất gia sau cuộc kháng chiến thất bại năm 43 Dương lịch thì chúng ta có thể nói Phật giáo đã có mặt tại nước ta từ đầu kỷ nguyên dương lịch nếu không muốn nói là sớm hơn. Vào khoảng thế kỷ thứ II Dương lịch, Phật giáo đã trở nên thịnh hành ở nước ta với trung tâm “Luy Lâu”, là một trong những trung tâm Phật giáo lớn và hình thành sớm nhất tại vùng Viễn Đông, trước cả trung tâm Phật giáo của Trung Quốc như Trung tâm Bành Thành hay Lạc Dương.
         3-Tình Hình Phật Giáo Du Nhập( từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ VI):
         a-Thế kỷ thứ I: Vào đầu kỷ nguyên Dương lịch, đạo Phật đầu tiên mang vào Giao Châu là do các thương gia Ấn Độ. Những người này không phải là những nhà truyền giáo, họ chỉ sống đời sống tín ngưởng của họ trong lúc lưu lại Giao Châu và người Giao Châu biết đến đạo Phật qua các thương gia này. Người Giao Châu hồi đó chỉ mới theo đạo với những sinh hoạt đơn sơ của người cư sĩ, giới hạn trong sự đọc tụng Tam Quy, cúng dường Phật pháp và bố thí cho người đau ốm, đói khổ, chứ chưa có sự học hỏi kinh điển.
         Trước khi Phật giáo du nhập thì nước ta đã có một nền văn hóa phong phú và một nền kinh tế khá mạnh. Người nông dân nước ta lúc đó đã có tín ngưỡng sùng bái các vị thần như thần mây, thần mưa, thần sấm và thần sét. Phật giáo đã hòa nhập vào nền văn hóa bản địa và Phật hóa những vị thần để biến thành Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi và Phật Pháp Điện. Qua sự kiện này, chúng ta thấy rằng Phật giáo ngay từ ban đầu không hề có sự chống đối với nền văn hóa bản địa cũng không có dấu hiệu gì phản kháng với hệ thống triết lý này.
        b-Thế kỷ thứ II: Vào thế kỷ thứ II, các Trung tâm Phật giáo Đại Thừa ở Ấn Độ bắt đầu hưng thịnh. Ý hướng đem Phật giáo truyền bá vào các nước xa đã thúc đẩy những vị tăng sĩ Ấn Độ đi theo các thương thuyền về
Đông Nam Á và Trung tâm Phật giáo Luy Lâu đã được thiết lập tại Giao Châu. Trung tâm Luy Lâu ra đời gần khoảng 500 tăng sĩ, 20 ngôi chùa và đã dịch được 15 bộ kinh.
         Cuối thế kỷ thứ II có ông Mâu Tử còn gọi là Mâu Bác, là người Việt Nam có thời gian sống ở Thương Ngô(Trung Quốc) vào niên đại khoảng 198-230. Mâu Tử là người học rộng biết nhiều, được đánh giá là một nhân tài nổi bật đương thời, gặp lúc Thương Ngô loạn lạc, ông đem mẹ trở về nước Việt Nam và ông đã trở thành một Phật tử. Ông là người đầu tiên dùng Phật giáo làm cơ sở đánh tan luận điệu tự tôn của dân tộc Hán. Tên tuổi của Ông được gắn liền với tác phẩm nổi tiếng “Lý hoặc luận”
        c-Thế kỷ thứ III: Đến thế kỷ thứ III thì có Khương Tăng Hội, Thích Đạo Thanh, Chi Cương Lương Tiếp truyền bá đạo Thiền và Ma Ha Kỳ Vực có khuynh hướng Mật tông…Khương Tăng Hội là người gốc Khương Cư, nhưng tổ tiên mấy đời di cư đến Ấn Độ. Cha Ngài là thương nhân đến nước ta( Giao Châu) sống để buôn bán và sinh Ngài tại đây. Cha mẹ mất lúc Ngài được 10 tuổi và khoảng 10 năm sau, Ngài xuất gia và tu học ở Giao Châu. Ngài tinh thông cả Phạn ngữ và Hán tự. Ngài dịch thuật nhiều kinh Phạn ra kinh Hán, Ngài biên soạn tập Lục độ yếu mục, Nê hoàn Phạm bối, Lục độ tập kinh và chú sớ An Ban Thủ Ý do An Thế Cao dịch. Vào năm 247, ông đến Kiến Nghiệp, thủ đô nước Ngô để truyền bá đạo pháp. Ô là vị sư đầu tiên đến đó, Ngô Tôn Quyền rất kính trọng và cho dựng chùa Kiến Sơ, một ngôi chùa đầu tiên ở Đông Ngô.
         Khương Tăng Hội đã khai mở Thiền học Đại Thừa ở Giao Châu. Ông không những được xem là sáng tổ của Thiền học Việt Nam mà còn được xem là người đầu tiên đem Thiền học phát huy ở Trung Hoa. Ngoài Khương Tăng Hội, thế kỷ thứ III còn có tên tuổi tăng sĩ cự phách khác hiện biết được là nhà dịch thuật Việt Nam        Thích Đạo Thanh( sinh khoảng năm 220, mất năm 300), người đã bút thọ cho bản dịch Pháp Hoa Tam Muội của Chi Cương Lương Tiếp dịch từ tiếng Phạn ra chữ Hán. Chi Cương Lương Tiếp là một nhà sư Ấn Độ đến Việt Nam vào khoảng năm 256. Ông thuộc hệ phái Phật giáo Đại Thừa có khuynh hướng Thiền học. Ma Ha Kỳ Vực là người Tây Trúc, vân vu các nước. Nơi nào đi qua, Ngài đều làm phép lạ khiến dân chúng rất cảm phục.
      d-Thế kỷ thứ IV : Vào thế kỷ thứ IV,Phật giáo Việt Nam vẫn là trung tâm Phật giáo lớn ở phương Đông, vẫn thu hút các danh nhân, cao tăng ngoài nước tụ hội về. Ngài Vu Pháp Lan  Vu Đạo Thúy là 2 nhân vật cự phách trong học giới Trung Quốc đã đến nước ta vào thế kỷ này.
       e-Thế kỷ thứ V, thứ VI : Có thiền sư Đạt Ma Đề Bà, thiền sư Huệ Thắng và Đạo Thiền. Đạt Ma Đề Bà là người Ấn Độ đã đến Giao Châu vào khoảng giữa thế kỷ thứ V để giảng dạy về các phương pháp thực hành thiền học. Huệ Thắng Thiền sư và Đạo Thiền là hai bậc cao tăng Việt Nam cuối cùng thời đại Phật giáo du nhập.
       Vào thời kỳ Phật giáo du nhập, đạo Phật mới phát triển phần hình thức, chứ thực chất thì chưa ảnh hưởng gì lớn trong nếp sống dân gian. Đến khi nhà nước độc lập Vạn Xuân ra đời với sự kiện xưng đế của Lý Bôn năm 544 đã đánh dấu một bước ngoặt mới của lịch sử dân tộc và cũng mở ra một thời đại phát triển mới của Phật giáo             Việt Nam.
II-THỜI KỲ PHÁT TRIỂN :
        Đến năm 574, Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi, người Nam Ấn Độ qua Trung Hoa gặp Đệ Tam Tổ Tăng Xán truyền tâm ấn và đến năm 580 thì qua Việt Nam trụ trì chùa Pháp Vân(Hà Đông). Ngài là thủy tổ sáng lập phái Thiền Tông thứ nhất ở Việt Nam. Cách 14 năm sau, Ngài truyền pháp cho Tôn giả Pháp Hiền, người Việt Nam đầu tiên được truyền tâm ấn. Pháp hệ của dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi được truyền 19 đời gồm 28 vị Tổ kế thừa.
         Cách 300 năm sau, khoảng thế kỷ thứ 9, đạo Phật Việt Nam lại xuất hiện một phái Thiền Tông nữa do Ngài Vô Ngôn Thông từ Trung Hoa truyền vào. Năm 820, Ngài qua Việt Nam trụ trì chùa Kiến Sơ(Bắc Ninh), sau truyền pháp cho Tôn giả Cảm Thành, truyền được 15 đời gồm 40 vị Tổ kế thừa và Tôn giả Cảm Thành là Sư Tổ Thiền Tông thuộc phái Thiền Tông thứ hai tại Việt Nam, dòng Vô Ngôn Thông vậy.
         Đạo Phật Việt Nam từ thời Bắc thuộc qua thời kỳ Lý Nam Đế và suốt thời Bắc thuộc thứ III, tuy có phát triển nhưng chưa được thịnh hành như các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần sau này.
III-THỜI KỲ HƯNG THỊNH :  
          Đạo Phật dưới thời tự chủ nhà Đinh(968-980) bắt đầu hưng thịnh. Khi Đinh Tiên Hoàng dẹp xong loạn Thập nhị sứ quân, thống lĩnh sơn hà, định lại việc triều đình, nhà vua liền nghĩ đến việc chỉnh đốn hàng ngũ Giáo hội và định phẩm trật cho các Tăng sĩ lỗi lạc, phong chức Khuông Việt Thái Sư cho Pháp sư Ngô Chân Lưu, chức Tăng Lục Đạo sư cho Trương Ma Ni. Đây là lần đầu tiên Phật giáo được triều đình công nhận và đạo Phật đã nhanh chóng phát triển, phổ biến rộng rãi trong nhân dân trở thành độc tôn.
         Làm vua chỉ được 12 năm thì nhà Đinh suy vong nhường ngôi cho nhà Tiền Lê. Người mở nghiệp nhà Tiền  Lê là Lê Đại Hành là vị anh hùng dân tộc đánh thắng xâm lược Tống lại là người hết sức sùng mộ đạo Phật, ra sức hộ trì và biệt đãi các vị Tăng tài. Lúc này cũng có nhiều vị danh tăng  như Khuông Việt Thái sư, Thiền sư Vạn Hạnh, Thiền sư Pháp Thuận hết lòng giúp nước và đạo Phật thêm hưng thịnh hơn trước.

 
                                                                              
                    HIỂU BIẾT VỀ TỔ CHỨC GĐPT VÀ GIÁO HỘI PGVN
 
         1- Bài số 1 :          Nội quy GĐPT ……xem trong Tài liệu Bậc Kiên của GĐPT Quảng Trị
         2- Bài số 2 :           Hệ thống tổ chức GHPGVN  … xem Tài Liệu Bậc Kiên GĐPT Quảng Trị
         3- Bài số 3 :                            Ý NGHĨA CỜ PHẬT GIÁO
I-XUẤT XỨ:
         Cờ Phật giáo 6 màu( 5 màu chánh và một màu tổng hợp), do Ngài Đại Tá Mỹ tên là Henry Steel Olcott, một tín đồ Phật giáo nghĩ ra và đã được công nhận từ năm 1885 tại nước Tích Lan.
         Ngày 25/05/1950, hai mươi sáu phái đoàn của 26 nước họp Đại hội nghị Phật giáo tại Colombo( Thủ đô Tích Lan) đã quyết định lấy cờ Phật giáo 6 màu làm cờ Phật giáo thế giới. Cờ Phật giáo là biểu hiện tinh thần thống nhất Phật giáo thế giới, tượng trưng lòng chánh tín và sự yêu chuộng hòa bình của Phật tử toàn thế giới. Các hàng Phật tử không phân biệt màu da, chủng tộc, chính kiến, đoàn kết chặt chẽ trong tinh thần thống nhất ý chí, thống nhất hành động dưới hào quang sáng ngời của chư Phật.
         Ngày 24/04/1951, Thượng Tọa Tố Liên cùng đại diện Ban Chấp Hành Phật giáo thế giới tại Việt Nam đã sang Tích Lan lần thứ hai để dự hội nghị Phật giáo thế giới tại Colombo và khi trở về Việt Nam đã mang theo lá cờ Phật giáo thế giới. Đến ngày 6/5/1951, các đại biểu của 3 miền Bắc, Trung, Nam nước ta đã họp hội nghị tại chùa Từ Đàm-Huế, quyết định thống nhất Phật giáo Việt Nam và tuyên bố thi hành nghị quyết của hội Phật giáo thế giới, suy tôn lá cờ Phật giáo nói trên. Thế là từ ngày ấy, lần đầu tiên lá cờ Phật giáo 6 màu tung bay trên bầu trời đất nước Việt Nam.
II-Ý NGHĨA:
         Ngày xưa, khi thuyết pháp, Đức Phật Thích Ca thường dùng sức thần thông mầu nhiệm phóng hào quang 6 sắc để biểu hiện pháp lực vô biên, đã được 6 pháp thần thông là thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, túc mạng, thần túc và lậu tận thông. Năm sắc được phân biệt là: xanh, vàng nhạt, đỏ, trắng, vàng thẫm và sắc thứ 6 là sắc tổng hợp của 5 sắc kể trên. Căn cứ vào Phật pháp thì 5 sắc theo chiều dọc tượng trưng cho 5 căn và sắc tổng hợp tượng trưng cho sự viên dung của 5 căn.
                     - Sắc xanh tượng trưng cho định căn.            
                     - Vàng nhạt tượng trưng cho niệm căn.
                     - Sắc đỏ tượng trưng cho tinh tấn căn.           
                     - Sắc trắng tượng trưng cho tín căn.
                     - Vàng thẫm tượng trưng cho tuệ căn       
                     -Sắc tổng hợp tượng trưng cho lý viên dung vô ngại của đạo từ bi, hỷ xả.
         Đứng về thế gian pháp để giải thích thì Cờ Phật giáo tượng trưng cho tư tưởng của các quốc gia không phân biệt màu da, chính kiến hay chủng tộc, để qui hồi về chân lý bất diệt của vũ trụ vô biên do đức Phật Thích Ca giảng dạy. Các màu của cờ Phật giáo có tính cách bình đẳng, từ bi, hỷ xả, dung hòa để gây niềm hòa khí êm dịu và nguồn hạnh phúc vô biên trong cảnh giới thái bình, an lạc cho Phật tử toàn thế giới.
III-PHẬT TỬ ĐỐI VỚI CỜ PHẬT GIÁO:
        Phật tử chúng ta đã hiểu rõ ý nghĩa cờ Phật giáo, biểu hiện cho đạo vô thường Bồ Đề. Vậy hết thảy các hàng Phật tử phải luôn luôn kính cẩn đối với cờ Phật giáo như một bảo vật có tính cách thiêng liêng, kết hợp Phật tử toàn thế giới thực hành giáo lý của Đức Thế Tôn, sống theo tinh thần từ bi, hỷ xả của đạo Phật.

                                               

Tác giả bài viết: Chánh Thiện Trí

Nguồn tin: Gđpt TP Vũng Tàu

Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thống Kê Truy Cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 12

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 10


Hôm nayHôm nay : 24

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 43001

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2955917

Giới thiệu

Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, vốn dĩ ngày xưa nó là một tỉnh, nhưng vì qua nhiều biến cố, đổi thay của lịch sử nên nó phải chịu cảnh nay tách, mai nhập. Từ Pháp thuộc, Vủng Tàu có tên là Cap Saint Jacque nằm trong Tỉnh Bà Rịa. Đến thời Ngô Đình Diệm, tỉnh được đặt tên là Phước Tuy, Cape Saint Jacque ( tức gọi là Ô Cấp ) đổi thành quận Vũng Tàu; ...............Do vậy mà Gia Đình Phật Tử của Tỉnh cũng thế và có hai nguồn rõ rệt: Vũng Tàu và Bà Rịa. Ban Biên Tập Website  xin lược qua quá trình hình thành và phát triển của Gia Đình Phật Tử tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.