Mục đích của Gia Đình Phật Tử Việt Nam:"Đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính – Góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội."
06:25 ICT Thứ sáu, 14/12/2018

Trang nhất » Tin Tức » Tu Học - Huấn Luyện

Bậc Chân Cứng

Đã xem: 2159

Thứ tư - 03/04/2013 10:07
Bậc Chân Cứng

Bậc Chân Cứng

           
Chương trình tu học ngành Oanh
 
Bậc Chân Cứng
 
        Theo chương trình tu học được tu chỉnh tại Hội nghị Đại biểu Huynh Trưởng GĐPT Việt Nam từ ngày 11 đến 14/08/2006 tại Văn phòng 2 Trung Ương GHPGVN, Thiền viện Quảng Đức và Tổ đình Vĩnh Nghiêm.
 
                        Phật pháp - Tinh thần - Lịch sử 
(9 đề tài xuyên suốt cho 4 bậc ngành Oanh) 


1. Lịch sử Đức Phật Thích Ca 
2. Châm ngôn - Luật - Khẩu hiệu của Đoàn 
3. Ý nghĩa huy hiệu Hoa Sen GĐPT 
4. Mục đích và lược sử GĐPT 
5. Cách chào kính trong GĐPT 
6. Ăn chay 
7. Lạy Phật - Niệm Phật 
8. Làm việc thiện 
9. Chánh niệm
10. Ý nghĩa màu Lam 
11. Thuộc và hiểu bài Sám hối 
12. Em đi sinh hoạt chuyên cần 
13. Em không chơi các trò chơi nguy hiểm bạo lực... 
14. Chuyện Tiền thân, mẫu chuyện Đạo: 
    - Chiếc cầu muôn thuở 
    - Con voi hiếu nghĩa 
    - Thầy Tỳ kheo với con ngỗng.
 
     ----------------------------------------------------------------------    
 
Lịch Sử Ðức Phật Thích Ca

          Đức Phật giáng sinh ở miền Trung Ấn Độ mà hiện nay nay thuộc xứ Nepal, gần dãy núi Hy Mã Lạp Sơn. là dãy núi cao nhất thế giới  và tiếp giáp với nước Tây tạng. Nguyên Ngài là Thái tử nước Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu). Phụ hoàng tên là Tịnh Phạn vương Đầu-đà-na (Sudhodana) và Mẫu Hoàng tên là Ma-Da (Maya). Họ của Ngài là Kiều-Tất La  (Gautama), được dịch là Cù-đàm và tên Ngài là Tất-Đạt-Đa (Siddhart
         Ngài sinh vào ngày rằm tháng hai Ấn Độ (tức là ngày rằm tháng tư theo lịch Tàu )tại vườn Lâm Tỳ Ni, thuộc thành Ca Tì La Vệ Ấn Độ. Ngày Thái Tử Si Đác Ta đản sanh là ngày hội vui lớn của toàn vương quốc. Dân chúng xa gần kéo về kinh đô Kapilavastu ăn mừng. Thái tử  sanh năm  624 trước TL
         Một vị Đạo sư già tên là Asita (A Tư Đà) từ nơi ông tu hành trên núi Himalaya (Hy mã lạp sơn) đến cung vua để chào mừng và xem tướng Thái tử. Gặp Thái tử, đạo sĩ Asita bỗng nhiên chắp tay vái chào với thái độ hết sức cung kính. Đạo sĩ tuy cuời mà vẻ mặt thoáng buồn và mắt ngấn lệ. Được hỏi vì cớ sao, Đạo sĩ Asita trả lời là ông mừng vì Thái tử tương lai sẽ thành Phật, bậc giác ngộ vô thượng, nhưng ông buồn vì ông tuổi đã quá cao, ắt phải qua đời mà không được vị Phật tương lai trực tiếp giáo huấn, giác ngộ.
       Sau khi sanh Ngài được 7 ngày thì hoàng hậu thăng hà lên cõi trời Ðao Lợi. Em ruột hoàng hậu là Kiều Ðàm Di (Gotami) người Trung Hoa dịch là Ba Xà Ba Ðề cũng là kế mẫu, thay thế Hoàng Hậu nuôi Ngài.
        Ngài có 32 tướng tốt, thông minh, giỏi cả văn lẫn võ rất khiêm tốn, hiếu học nên các bậc Thầy đều bái phục.
         Mặc dù sống trong cung điện nguy nga, cao sang quyền quý, được sự nuông chìu chăm sóc đủ mọi điều của Vua cha nhưng vì thương người, thương mọi loài đang sống trong cảnh khổ đau, bệnh tật, chết chóc nên Thái tử luôn lộ vẻ u buồn, băn khoăn lo lắng cho việc cứu độ chúng sanh.
         Vâng lời vua cha, Thái tử cưới công chúa Da Du Đà La làm vợ và sinh được một đứa con trai đặt tên là La Hầu La.
          Vì lời tiên đoán của tiên A Tư Đà, nên Vua Tịnh Phạn không để Thái tử tiếp xúc với cảnh buồn khổ.
       Nhưng do sự thỉnh cầu của Thái Tử, nhà vua phải để cho ngài dạo chơi ở ngoại thành. Chính việc tiếp xúc với cuộc sống bên ngoài đã cho Thái tử nhận rõ sự thật sinh, lão, bệnh, tử là khồ và hình ảnh thanh thoát của bậc xuất gia.
        Nửa đêm mùng Tám tháng Hai, sau buổi yến tiệc linh đình, tất cả đều ngủ say, Thái Tử Tất Ðạt Ða cùng người hầu cận là Xa Nặc cởi ngựa Kiền Trắc vượt cửa thành ra đi.
        Ðến sông A Nô Ma, Ngài xuống ngựa, cắt tóc, cởi đồ trang sức giao cho Xa Nặc mang về cung báo cho Vua Tịnh Phạn biết ý định đi tìm Ðạo giải thoát cho chúng sanh của Thái Tử. Trên đường đi gặp người thợ săn Thái Tử cởi áo mình đổi lấy quần áo của người thợ săn, cương quyết từ giả cảnh đời xa hoa, vương giả. lúc ngài 19 tuổi.(Theo Nam tông Thái tử xuất gia năm 29 tuổi)
          Ra đi, Thái tử từ bỏ tất cả, từ bỏ phụ vương, từ bỏ ngai vàng, vợ đẹp và con thơ, cuộc sống quyền quý giàu sang và hạnh phúc của một hoàng tử. Chứ không phải sự từ bỏ của một người già, ốm đau,, bệnh tật, nghèo khổ, ngán ngẫm cuộc đời.
         Quả thật đó là một sự từ bỏ, sự hy sinh vĩ đại, có một không hai trong lịch sử loài người. 
         Trước hết Thái Tử tìm hiểu và tu những Ðạo đang có ở trong nước, tìm xem Ðạo nào là chân chánh giải thoát cho tất cả chúng sanh. Thái Tử đến thành Vương Xá, rừng Bạt Già Thái Tử hỏi Ðạo của các vị Tiên tu khổ hạnh, để được lên các cõi trời, nhưng nhận thấy chưa phải là Ðạo chân chánh giải thoát.
         Thái Tử đến phía Bắc thành Tỳ Xá Lỵ Thái Tử hỏi Ðạo ông A La La tu để lên cõi trời Vô Tưởng nhưng Ngài cảm thấy cũng chưa phải là Ðạo giải thoát.
          Rồi Ngài đến hỏi Ðạo ông Uất Ðầu Lam Phất, tu để sanh về cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ; Thái Tử đã tu theo và chứng được, nhưng Ngài cũng nhận rằng cõi ấy chưa phải là cảnh giải thoát.
         Sau ba lần hỏi Ðạo Thái Tử nhận thức rằng các Ðạo hiện hành không có Ðạo nào là chân chánh giải thoát, Ngài nghĩ phải tự mình tu tập mới tìm rõ Ðạo chân chánh. Ðến rừng Ưu Lâu Tần La, phía Nam núi Tượng Ðầu, bên sông Ni Liên Ngài cùng năm anh em ông Kiều Trần Như tu khổ hạnh.
      Trong sáu năm Ngài cương quyết ép xác mình cho đến mỗi ngày chỉ ăn một hạt gạo hoặc một hạt mè mà thôi. Ðến một ngày kia thân xác Ngài tiều tuỵ té xỉu chết giấc.
        Lúc ấy có một thôn nữ tên Tu Xà Ðề thấy Ngài nằm dưới gốc cây liền mang sửa đến dâng. Khi tỉnh dậy, Ngài hiểu rằng tu khổ hạnh chưa phải là Ðạo giải thoát.
          Ngài xuống sông Ni Liên tắm rửa sạch sẽ, rồi đến gốc cây Tất Bát La (pippala) trải cỏ làm nệm, ngồi tọa thiền và thề rằng: "Nếu ta không chứng Ðạo giải thoát cho chúng sanh thì thề trọn đời không rời khỏi chổ này."Đến khi đức Phật thành đạo cây này mới đổi tên là cây Bồ Đề (cây Giác ngộ)
         Sau bốn mươi chín (49) ngày thiền định dưới gốc cây Bồ Ðề, đến đêm mùng Tám tháng Mười hai Thái Tử chứng Ðạo vô thượng, thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni.
         Ðức Phật Thích Ca đến vườn Lộc Uyển thuyết Pháp Bốn Ðế (Khổ, Tập, Diệt, Ðạo) cho năm người bạn cùng tu khổ hạnh là nhóm Kiều Trần Như, và họ trở thành đệ tử Phật, từ đó mới có đủ ba ngôi báu là Phật, Pháp, và Tăng.
         Suốt 49 năm, Đức Phật trên đường hóa độ, Ngài  không kể giai cấp, từ hang vua chúa, quý tộc đến hạng dân dã ngèo hèn, từ thanh niên đến người lớn tuồi, từ bậc hiền đức đến kẻ bạo tàn. Và Ngài đã độ cho Di Mẫu Kiều Đàm Di , đây là nữ đệ tử Xuất gia đầu tiên của Phật.
         Trong một lần thọ trai, Ngài bảo với A Nan: “Trong đới ta có 2 người dâng cúng thức ăn được nhiều phước báu nhất là cô thôn nữ Tu Xà Đề dâng cháo sữa cho Như Lai trước khi Thành Đạo và bửa ăn cuối cùng cùa Thuần  Đà cúng dường trước khi Nhu Lai nhập diệt”
        Biết mình sắp nhập Niết Bàn, đêm trăng tròn tháng hai Ấn Ðộ, Ngài tụ tập các hàng đệ tử tại xứ Câu Ly, rừng Xa Nại, treo võng nơi hai cây Sa La Song Thọ. Trước lúc nhập diệt Ngài độ cho người đệ tử cuối cùng là người Bà La Môn tên  Tu Bạt Đà La, và Ngài giảng dạy khuyên bảo lần cuối cho hang đệ tử “ Này các người phải tự thắp đuốc lên mà đi, hảy lấy Pháp của ta làm đuốc, hảy lấy giới luật làm thầy” và trao y bát cho cho đệ tử là ngài Ca Diếp để tiếp tục truyền Ðạo, rồi từ giã mọi người mà nhập Niết Bàn.
        Ngài hưởng thọ tám mươi (80) tuổi . Trong hang Đệ tử của ngài có Tôn giả A Nan là vị có khả năng nghe nhiều, tiếp thu, nhớ kỹ Phật pháp  và Đa văn bậc nhất.  
 
Châm ngôn, Khẩu hiệu của GĐPT.
Luật Đoàn  
A.- Châm ngôn
             Trong Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1951, BI – TRÍ – DŨNG là châm ngôn của Huynh trưởng và Đoàn sinh các ngành Thanh, Thiếu. Ngành Đồng có châm ngôn là : HOÀ – TIN – VUI.
        Đến Đại hội Huynh trưởng GĐPT năm 1964, châm ngôn của tổ chức không còn phân chia theo ngành. Tất cả đều theo châm ngôn  BI – TRÍ – DŨNG.
        Châm ngôn Bi-Trí-Dủng được xem là la bàn định  hướng, ngọn đuốc soi đường cho GĐPT
       I.- Đặc tính của  BI –TRÍ – DŨNG:
       Bi-Trí-Dũng được rút gon của ba cặp chữ Từ bi, Trí tuệ, Dũng mãnh
a.- Từ bi: có nghĩa là  đem vui, cứu khổ cho tất cả chúng sanh. Đạo Phật là Đạo Từ bi.Từ bi trong đạo Phật nói lên một tình thương rộng lớn đối với tất cả chúng sanh . Chúng ta không có năng lực đem vui cứu khổ thì ít ra cũng không làm tổn hại đến ai hoặc bất cứ loái vật nào.
         b.- Trí tuệ. Đạo Phật không chỉ được gọi là đạo Từ bi mà còn là Đạo của Trí tuệ. Nghĩa là hiểu biết rõ ràng cùng khắp, nhận rõ được chân lý và sự thật. Người Phật tử không cam tâm chịu dốt và u mê mà phải tìm tòi học hỏi đúng chánh pháp và chân lý.
     c.- Dũng mãnh: Nghĩa là can đảm tinh tấn, không yếu đuối sợ sệt, thối chí. Là đoàn sinh Gia Đình Phật Tử em phải vượt qua mọi chướng ngại để tiến đến giác ngộ. Phải luôn luôn cố gắng kiên trì để thắng mọi thử thách gian lao, mỉm cười trước nguy hiểm, vững chí tiến bước trên đường tu học. Nhờ động lực, ý chí không gì lay chuyển mà Thái Tử Tất Đạt Đa mới có đủ lực rời bỏ cung vàng điện ngoc, vợ đẹp con thơ để dấn thân vào rừng sậu, núi hiểm, chấp nhận cơ cực, gian nan để tìm Đạo giải thoát cho chúng sanh
       Ba đức tính Bi - Trí - Dũng phải song song phối hợp, hỗ trợ nương tựa nhau, không thể thiếu một. Nếu có Bi (tình thương) mà thiếu Trí (lý trí) xét đoán thì Bi ấy sẽ bị sai lầm, mù quáng. Nếu có Trí mà không có Bi thì Trí ấy nguy hiểm. Khi có Bi và Trí mà thiếu Dũng thì Bi và Trí cũng vô dụng, vì không vượt thắng khó khăn, trở ngại để thực hiện Bi, Trí đạt tới thành công. Có Dũng mà thiếu Bi và Trí thì Dũng ấy dễ sai lạc bởi hành động thiếu suy nghĩ và có khi trở thành độc ác
        II.- Ứng dụng tinh thần Bi-Trí-Dũng:
      Châm ngôn Bi-Trí-Dũng là định hướng để chúng ta sinh hoạt, tu học không bị lệch mục tiêu. Từ bi giúp ta loại trừ lòng sân hận, độc ác. Trí tuệ giúp ta thấy rõ sự thật, suy xét điều hay lẽ phải, phá bỏ vô minh. Dũng mãnh là động lực, ý chí giúp ta vượt qua bao thách thức, chướng ngại ngoại cảnh cũng như nội tâm
  Là đòan sinh oanh vũ em cố gắng hực hành hạnh từ bi của mình là biết thương người và thương mọi loài, đồng thời cố gắng học hỏi và ghi nhớ lời Phật dạy để có trí tuệ sáng suốt và lòng dũng mãnh để vượt qua bao gian khó.
             
  B.- Khẩu hiệu TINH TẤN
     Khẩu hiệu Tinh Tấn  của GĐPT được quy định theo điều 4 chương I trong nội quy của GĐPT.
     Trong các buổi sinh hoạt hay các buổi lễ của GĐPT mổi lần anh chị trưởng điều khiển Hô Phật Tử. Tất cả mọi người đều đáp Tinh tấn. Vậy chúng ta tìm hiểu hai chữ TINH TẤN.
Tinh: là tinh chuyên, chân chánh, hướng thiện.
Tấn:  là tiến bộ, vươn lên
    Tinh tấn là chuyên cần học hỏi để ngày càng tiến bộ trên con đường chân chánh hướng thiện.
     Khẩu hiệu Tinh Tấn được xem như là tiếng hô để cùng nhau tiến bộ..
    Để trở thành một người con hiếu thảo, một người học trò siêng năng, một đoàn sinh gương mẫu, một công dân hửu ích cho xã hội các em phải luôn tinh tấn tu học, rèn luyện bản thân ngày mỗi tiến bộ
     Vậy Tinh tấn là khẩu hiệu của GĐPT, nhằm nhắc nhở chung ta luôn siêng năng chuyên cần trong mọi công việc, luôn hướng thiện, tu học rèn luyện theo lời phật dạy hầu xứng đáng là đoàn sinh GĐPT đã phát nguyện đeo hoa sen
C.-Luật của Ðoàn
        I.- Định nghĩa: Luật là những điều mà mọi người trong cùng một tổ chức, một đoàn thể phải tuân theo để giữ gìn căn bản đạo đức của tổ chức dó    
       II.- Luật của nganh Oanh: Ba điều luật của ngành Oanh được ghi vào Nội quy GĐPT từ năm 1951. Ba điều luật này đã được thấy Thích Minh Châu Cố vấn Giáo hạnh GĐPT thời đó ưu ái biên soạn . Là Oanh Vũ em phải thuộc lòng, hiểu và thực hành cho đúng ba điều luật của mình.
     1. Em Tưởng Nhớ Phật : Phật rất thương yêu em và thương yêu tất cả mọi người, mọi vật. Tưởng nhớ Phật em sẽ được gần Ngài để bắt chước và cố noi theo tánh tốt của Ngài.
     2. Em Kính Mến Cha Mẹ Và Thuận Thảo Với Anh Chị Em: Cha mẹ hết lòng nuôi nấng cho em khôn lớn, lo cho em học hành nên người. Em còn phải thuận thảo với anh chị em, vì hàng ngày cùng chung sống với nhau, thương yêu giúp đỡ nhau. Em phải ôn hòa với anh chị, nhường nhịn và rộng rải với các em nhỏ.
     3.- Em Thương Người Và Vật: Vì mọi người, mọi loài đều biết sung sướng, khổ đau và biết biểu lộ tình cảm. Em có thương yêu người thì mới được mọi người thương yêu lại. Em biết thương yêu người và vật, mới xứng đáng là con ngoan của Phật.
     Em thực hành tốt ba điều luật của ngành oanh nhằm giúp các em trở thành một người con ngoan, một đoàn sinh hiếu thuận được mọi người thương mến.
 
Ý Nghĩa Huy Hiệu Hoa Sen
 
       I.- Sự hình thành huy hiệu Hoa sen:
          Các tổ chức thường có một huy hiệu riêng để tượng trưng cho tổ chức của mình. GĐPT cũng vậy, đó là huy hiệu HOA SEN TRẮNG. Huy hiệu hoa sen này được quý thầy gắn cho các anh chị Ban Hướng Dẫn Thừa Thiên nhân dịp lễ Thành Đạo năm 1949. Cố Huynh trưởng Từ Mẫn Lê Lừng là người đã chon hoa sen để sang tác huy hiệu cho GĐPT.
        II.- Hình thức và ý nghĩa của huy hiệu hoa sen:
        1.- Hình Tròn: Hình tròn tượng trưng cho sự hoàn toàn vô ngại và viên dung trong Đạo Phật. Ngoài ra đối với GĐPT còn có ý nghĩa vượt chướng ngại để tinh tấn tu học
         2.- Màu sắc:
          - Hoa Sen màu trắng và đường viền màu trắng: tượng trưng cho ánh sáng của Trí huệ hoàn toàn (giác ngộ), và cho ánh sáng của hạnh Thanh tịnh hoàn toàn (giải thoát).  
           - Nền Nmàu xanh lá mạ: là màu tương lai - chỉ tuổi trẻ đang vươn lên đầy hy vọng ở tương lai, màu của Thanh, Thiếu, Nhi Phật Tử.
         3.- Huy Hiệu Hoa Sen Có Tám Cánh. Từ ngoài nhìn vào:
            a.-  Năm cánh trên chỉ năm hạnh.
-    Tinh Tấn: Luôn siêng năng học tập, rèn luyện, cầu tiến tu học không ngừng
-    Hỷ Xả: Cùng nhau vui vẻ tu học, không đố kỵ, ganh ghét.
-    Thanh Tịnh: Trong sạch từ thể chất đến tinh thần
-     Trí Tuệ: Hiểu biết một cách đúng đắn,sáng suốt, phân biệt được diều hay lẽ phải.
-    Từ Bi: Đem vui, cứu khổ, trong phạm vi nhỏ các em phải thể hiện tình thương đối với mọi người, mọi loài.
             b.- Ba cánh dưới chỉ ba ngôi báu.
          - Cánh giữa Phật: Là đấng Giác ngô hoàn toàn.
          - Cánh trái Pháp: Pháp là lời dạy của Đức Phật hoặc các vị Bồ Tát vâng theo lời Phật mà nói, hoặc các vị Tổ Sư diễn giảng.
          - Cánh phải Tăng: Tăng  là đoàn thể xuất gia tu hành theo Đạo Phật, gồm bốn người trở lên, và sống theo sáu phép hòa kính.
           Ngoài ra hoa sen là loại hoa mọc trong bùn dơ nhưng vẫn toả ngát hương thơm tượng trưng cho người Phật Tử dù sống với xã hội đầy dẫy tội lổi nhưng vẫn không bị sa đọa để trở thành xấu xa tội lỗi.
             Đoàn sinh khi được phát nguyên đeo Hoa sen là miềm vinh dự, hảnh diện đối với các em. Từ khi được phát nguyện đeo hoa sen, em trở thành Đoàn sinh chính thức của GĐPT Việt nam. Do vậy em phải trân trọng giữ gìn huy hiệu hoa sen khi mặc dồng phục GĐPT.
Cách vẽ Huy hiệu Hoa sen:
 
Mục đích vủa Gia đình Phật tử
 
       Theo nội quy GĐPT Được tu chỉnh tại Hội nghị Huynh trưởng cấp Tấn, Dũng Gia Đình Phật Tử toàn quốc ngày 28-29/07/2001 tại Tổ Đình Từ Đàm - Tỉnh Thừa Thiên Huế và được hội đồng trị sự GHPGVN ban hành bằng quyết định số 045/QĐ/HĐTS ngày 29/01/2002
     “ Đào luyện Thanh - Thiếu - Đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính. - Góp phần phụng sự Đạo pháp và xây dựng xã hội.” 
    Phân tích:
-     Thanh - Thiếu - Đồng niên:
         + Thanh: Là những anh chị từ 18 tuổi trở lên
         + Thiếu: Là những anh chị từ 13 đến 17 tuổi
         + Đồng niên: Là từ 6 dến 12 tuổi
-     Phật tử Chân chánh: Là Phật tử đã quy y Tam Bảo, giữ 5 giới và sống theo năm hạnh
-     Phụng sự Đạo Pháp: Là góp phần gìn giữ, bảo vệ và làm cho Đạo Phật ngày thêm hưng thịnh.
-     Xây dựng xã hội: Chúng ta đem lời Phật dạy áp dụng  vào đời  sống trong xã hội, làm cho mọi người chung quanh ta cảm thấy an vui và sống theo ta. Từ đó đời sống xã hội bớt tham sân si, biến thành an vui hạnh phúc,
Tóm lại: Mục đích chính của GĐPT  là giáo dục các em trở thành những Phật tử chân chính, trở người tốt trong xã hội, người con hiếu thảo trong gia đình, người học trò ngoan, giỏi trong trường học
 
Lược sử Gia đình Phật tử Việt Nam
 
         Gia đình Phật tử Việt Nam là một tổ chức giáo dục thanh thiếu niên Phật giáo tại Việt Nam được thành lập năm 1951, trên cơ sở các tổ chức giáo dục thanh thiếu niên theo tinh thần Phật giáo do Bác Tâm Minh – Lê Đình Thám sáng lập
         Vào khoảng năm 1932, tại Huế, ban Quản trị Hội An Nam Phật học nhận thấy hội đủ điều kiện thuận lợi hình thành tổ chức "Ban Đồng Ấu Phật giáo" tại chùa Từ Đàm (Bửu Bác trực tiếp phụ trách). Và Đoàn đồng ấu Phật tử ra đời và tổ chức rước Phật nhân ngày Phật Đản năm 1935
        Ngày 10/08/1938, trong diễn văn khai mạc Đại hội thường niên của Hội An Nam Phật học, bác Chánh Hội trưởng Lê Đình Thám đã dõng dạc tuyên bố: "Không có một thành tựu vững bền nào lại không nhắm đến hàng ngũ thanh thiếu niên, họ là những người tiếp nối chúng ta trong ngày mai..."
              Hai năm sau, mùa thu năm 1940, Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục ra đời với sự bảo trợ của Hội An Nam Phật học và sự hướng dẫn trực tiếp của nhà Phật học: Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
              Lễ Phật đản năm 1944 tại đồi Quảng Tế - Huế, các đơn vị thanh niên Phật học, Hướng đạo Phật giáo, Đồng ấu Phật học... họp đại hội và khai sinh tổ chức Gia đình Phật hóa Phổ, tiền thân Gia đình Phật tử ngày nay
            Năm 1951 Đại hội Gia đình Phật hóa Phổ họp tại chùa Từ Đàm  và danh xưng "GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM" được thay thế cho Gia đình Phật hóa Phổ và một bản Nội quy trình cũng được ra đời từ đây. Anh Võ Đình Cường Trưởng ban Hướng dẫn Gia đình Phật hóa Phổ Trung phần được cử giữ chức vụ Trưởng ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Tổng hội Trung phần.
       Qua 9 lần đại hội 1951 - 1973, Gia đình Phật tử Việt Nam đã từng bước trưởng thành trong lòng Giáo hội. Gia đình Phật tử đã hoàn chỉnh về tổ chức, có nội quy, có đường hướng giáo dục, có châm ngôn điều luật và cách chào kính đã hoàn hảo mà mãi cho đến ngày nay vẫn còn giữ nguyên giá trị ban đầu ấy.
      Sau ngày đất nước được thống nhất do hoàn cảnh lúc đó còn nhiều khó khăn, nhân sự phân tán nên sinh hoạt Gia đình Phật tử tại một số nơi ngừng sinh hoạt.
      Năm 1997 Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV diễn ra tại Hà Nội, Gia đình Phật tử được chính thức công nhận, ghi vào Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt  Nam (Chương V Điều 19, nay là Điều 21).
Việt Nam
     Năm 1998, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập các Ban Hướng dẫn Phật tử từ Trung ương đến các Tỉnh, Thành. ngành Gia đình Phật tử do Huynh Trưởng GĐPT điều hành theo chủ trương đường lối của Giáo hội Phật giáo
       Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, nhiệm kỳ 2007 - 2012 tại Hà Nội công nhận Trưởng ngành Gia đình Phật tử là Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, một lần nữa xác định vị trí của GĐPT trong tổ chức GHPGVN
         Ngày 01/8/2011   Hội nghị Đại biểu Huynh trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam lần thứ XI đã long trọng diễn ra tại Tổ đình Từ Đàm lịch sử Tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi đây danh xưng Gia đình Phật Tử Việt Nam đã đi vào lịch sử và đến nay vừa tròn 60 năm.
        Tóm lại:
        Gia đình Phật tử việt nam ra đời với sứ mạng cao cả  là giáo dục thanh thiếu đồng niên trở thành con người có đạo đức, tin Phật, yêu gia đình, yêu tổ quốc. Em tự hào là đoàn sinh GĐPT Việt nam
 
Ý Nghĩa Chào Kính Của Gia Ðình Phật Tử
 
              A.-Mở đầu :
           Chào là một cách biểu lộ tình cảm, sự thân thiện, vui mừng giũa những người quen biết, bạn hửu khi gặp nhau. Chào cũng là tượng trưng cho hình thức kỷ luật của một đoàn thể, một tổ chức. Nên mỗi đoàn thể, mỗi tổ chức đều có một lối chào riêng.
      B.- Cách chào của Gia Đình Phật tử :
           Gia Ðình Phật Tử dùng ấn Cát Tường để chào nhau khi mặc đồng phục. Chào theo lối này để biểu lộ tinh thần đoàn kết, tinh thần kỷ luật và sự hòa hợp của tổ chức Gia Ðình Phật Tử.
         1.-Ý nghĩa ấn Cát Tường (còn gọi là Ấn Tam Muội)
            Ấn Cát Tướng là ấn Chánh Định, làm cho lòng lắng dịu, chuyên đốt cháy lữa Tham –Sân. Chính đức Phật thường dùng ấn này để phóng hào quang cứu độ chúng sanh.
         2.-Cách bắt ấn Cát Tường: Người chào đứng thẳng, mặt hướng về nguời mình chào, tay phải gập lại, cánh tay song song với thân người, lòng bàn tay hướng về phía trước, cùi chỏ gần sát thân người và ngang hàng với tầm lưng, đừng quá ra phía sau hay phía trước, các ngón tay khép vào nhau, ngón tay cái đè lên ngón đeo nhẫn (ngón áp út) trong khi ngón này gấp lại, mủi bàn tay ngang tầm vai. Tay trái xuôi theo người. Người được chào phải chào lại người chào mình.
    3.- Mục đích :
          Chào theo lối bắt ấn Cát Tường còn có mục đích nhắc nhở chúng ta lắng lòng cho trong sạch, giữ vững niềm tin Phật, nhớ lời Phật dạy, tránh dữ làm lành.
    C.-Các phương cách chào kính trong Gia Ðình Phật Tử:
               1.-  Khi làm lễ Ðoàn chào một lần và đứng nghiêm hát bài ca chính thức  Sen Trắng (Nếu không có cờ Gia đình thì không bắt Ấn chào).  
 2.-  Chào nhau khi gặp mặt lần đầu tiên trong ngày, người nhỏ chào người lớn trước  rồi chờ anh chị hạ tay xuống thì các em mới được hạ tay.....
                3.-  Khi đi từng đoàn gặp anh chị trưởng chỉ người hướng dẫn chào mà thôi.
                4.-  Khi gặp đám tang tất cả đều chào một lần.
                5.-  Khi gặp chư Tăng Ni thì chắp tay,cúi đầu vái chào chứ không bắt Ấn (dù đang mặc đồng phục GĐPT)
                6.-  Khi gặp quý Bác trong khuôn hội, Phật Tử lớn tuổi, anh chị trưởng mặc thường phục vòng tay cuối đầu chào.
                  
ĂN CHAY
 
           I.- Ý Nghĩa Ăn Chay:
        Đạo Phật là đạo từ bi, Phật Tử phải tôn trọng sự sống của mọi loài. Đức Phật dạy cho chúng ta phải ăn chay để tránh giết hại các loài động vật vì nó  cũng như người, đều biết tham sống sợ chết. có sự sống biết khổ đau
          II.- Ăn chay là gì:
      Ăn chay là ăn những loài thảo mộc như hoa quả, rau cải, đậu mè…chứ không ăn các món ăn thuộc loài động vật như heo, bò, tôm, cá, gà, vịt v.v...
          III.- Ăn chay thể hiện tinh thần gì:
        Ăn chay thể hiện tinh thần thương yêu muôn loài, là Oanh vũ GĐPT các em phải từng bước học tập theo hạnh từ bi của Đức Phật như diều luật thứ ba của ngành Oanh.   Các loài vật cũng biết đau khổ ,biết thương yêu và đều tham sống sợ chết. Cho nên người Phật tử trong đó có các em oanh vũ phải biết thương yêu chúng, không nên giết hại và ăn thịt chúng.
         IV.- Ích Lợi Của Sự Ăn Chay:
          1.- Thân thể được khỏe mạnh:
        Người ăn chay thân thể được mạnh khỏe, sống lâu và ít bệnh tật. Trong hoa quả ít có chất độc. Hoa quả, rau cải, khoai, ngũ cốc có đủ dinh dưỡng để nuôi sống con người
          2.- Không gây thêm nghiệp báo:
Người ăn chay  tránh cho ta quả báo của sự sát hại, không bị loài vật chạy theo để đòi mạng vì đã giết chúng để ăn
         3.- Thông minh, hiền hậu:
      Người ăn chay  trí não nhẹ nhàng, tinh thần minh mẫn, và tánh tình hiền hậu , được mọi người thương mến
         Theo lời Phật dạy, người ăn chay tránh được tội sát sanh, tránh được quả báo, thể hiện được tình yêu thương muôn loài, bớt tính hung ác, trở nên hiền lành và được hiều người yêu mến  
        V.- Cách Thức Ăn Chay:
      Có nhiều cách ăn chay:
        - Ăn chay trường: Tức là ăn chay trọn đời, không ăn mặn.
        - Ăn chay kỳ: Tức là trong một năm nguyện ăn  chay vài ba tháng hay trong một tháng nguyện ăn vài ngày.
      Các ngày ăn chay trong tháng:
-     Ăn chay 2 ngày:  ngày 1 và 15  Âm Lịch.
-     Ăn chay 4 ngày: 1,14,15,30.
-     Ăn chay 6 ngày: 1-8-14-15-23-30.
-     Ăn chay 10 ngày: 1-8-14-15-23-24-28-29-30.
       Khi đã phát nguyện ăn chay em phải nhớ những điều sau đây:
       - Đã phát nguyện ăn chay thì luôn giữ, không vì trường hợp gì mà bỏ qua, trừ khi đau bệnh có thể khỏi giữ.
       - Dùng các món chay đạm bạc, đừng có quá sang trọng.
       - Những ngày Vía và những ngày đi trại nên ăn chay.
       Tóm lại:
           Ăn chay là ăn rau, quả, đậu, mè ... mà không ăn thịt, cá, trừng ....Ăn chay rất hợp vệ sinh, đầy đủ chất bổ dưỡng lại dễ tiêu. Giúp thân thể khỏe mạnh, tránh bệnh tật, trí óc sáng suốt.
        Theo lời Phật dạy, người ăn chay tránh được tội sát sanh, tránh được quả báo, thể hiện được tình yêu thương muôn loài, bớt tính hung ác, trở nên hiền lành và được hiều người yêu mến
 
                 Lạy Phật

         Các em đến với GĐPT việc trước tiên là các em phải thực hành điều luật thứ nhất của Oanh Vũ: “Em Tưởng Nhớ Phật”.   Do đó các em phải lạy Phật để các em được gần Phật.       
         1.- Vì sao phải lạy Phật:
       - Thể hiện long thành kính tri ân Đức Phật. Vì Đức Phật đã khai sáng con đường Đạo cứu độ chúng sanh
       - Quan tưởng tướng tốt, hạnh lành của Đức Phật
       - Tiếp nối truyền thống ngày Xưa khi Đức Phật còn tại thế. Ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế, các đệ tử Phật từ vua quan tới dân chúng khi may mắn gặp Phật đều cúi xuống ôm chân Phật và đặt trán lên chân Phật để tỏ lòng cung kính.
       2.- Lạy Phật được lợi ích gì :
         - Được gần Phật. Nguyện noi theo gương lành của Ngài
        - Là dịp để sám hối lầm giúp các em tăng trưởng lòng thương người và vật.
        - Được Chư Phật gia hộ trí tuệ sang suốt, tánh tình hiển hòa, thân tâm an lạc
        3.- Cách lạy Phật:
        Lạy Phật em phải chắp tay ngang ngực, cúi đầu, hai gót chân sát vào nhau, từ từ quỳ xuống ngữa hai bàn tay ra và tưởng tượng như em đang nâng hai bàn chân Đức Phật. Rồi cúi lưng xuống đặt trán mình lên hai lòng bàn tay.một lúc thì đứng dậy.
        Lạy Phật phải trang nghiêm, nhẹ nhàng và thong thả
 Tóm lại
           Em lạy Phật để quán tưởng tướng tốt của Đức Phật, cung kính nhớ ơn Phật, sám hối những lỗi lầm và nguyện làm việc lành, tránh việc dữ. lạy Phật đem lại cho em tâm trí sáng suốt, than tâm an lac
  
Em Niệm Phật
         Các em đến với Ðoàn việc trước tiên là các em phải biết niệm Phật. Do đó các anh chị Huynh Trưởng hướng dẫn cho các em niệm Phật để các em được gần Phật.
      I.- Định Nghĩa:
        Niệm là suy nghĩ nhớ tưởng. Niệm Phật là đọc lên danh hiệu của Chư Phật, Chư Bồ tát, để nhớ, nghĩ đến Chư Phật và chư vị Bồ tát.
        - Niệm Phật là một phương pháp Phật dạy các em thực hành để các em được gần Phật,
        - Niệm Phật là sám-hối những lỗi lầm, là nguyện làm các việc lành, nguyện theo lời Phật dạy.
       - Niệm Phật là quán tưởng đến tướng tốt và lời dạy của chư Phật để cố gắng noi theo tu học
       II. - Vì sao phải niệm Phật:
       - Niệm Phật để sửa đổi tánh tình, bớt khổ đau, tránh được tai nạn, luôn luôn vui vẻ, được nhiều phước đức.
       - Các em nhiều khi mê-mờ không rõ đường đi, niệm Phật tức các em được đức Phật chỉ rõ hướng đi chơn chánh cho em.
       III.- Em niệm Phật được những lợi ích gì: 
-     Niệm Phật là để nhớ những đức tánh tinh tấn, hỷ-xả, thanh tịnh, trí-huệ, từ-bi, tức là em tập được các hạnh ấy.
-     Niệm Phật được mọi người kính yêu. Vì Phật là một vị ai cũng tôn kính.
-     Muốn cho lòng mình lắng dịu, đừng suy nghĩ xằng bậy, nhớ lời Phật dạy, trí được sáng suốt, tâm nghĩ điều lành, tránh xa điều ác hại mình hại người.
-      Khi niệm Phật ta cảm thấy được gần Phật, quên buồn phiền và tạo được phước lành về sau.
       IV.- Các cách niệm Phật:
              Niệm Phật có nhiều cách như :Tụng niệm-Mật niệm-Chuyên niệm-Quán niệm-Khẩn niệm…Nhưng các em chỉ cần biết hai cách căn bản nhất:
      1. Mật Niệm: Niệm thầm không cần phát ra tiếng.
      2. Tụng Niệm: Niệm lớn như lúc tụng kinh lễ Phật.
       V.- Niệm Phật như thế nào:
      Khi niệm Phật lòng em phải chăm chú tưởng nhớ chư Phật không nghĩ đến bất cứ một điều gì khác ngoài sự tưởng tượng và hướng về chư Phật.
      Mỗi ngày trước khi đi ngủ em hãy tự kiểm lại em đã làm những gì trong năm hạnh của Phật-tử, nếu có lỗi em hãy sám hối và niệm danh hiệu các đức Phật. Nếu trong nhà có bàn thờ Phật, em hãy niệm ít nhất một ngày một lần đó mới chính là người con Phật
           Kết luận:
        Niệm Phật là một việc làm đưa chúng ta đến gần đức Phật. Trong cảm ứng giao hòa giữa ta và Phật đã đưa tâm hồn ta đến chỗ thanh tịnh, an vui- từ bi và hỹ xã - yêu thương và độ lượng với tất cả mọi người
 
LÀM VIỆC THIỆN
     1.- Việc thiện là gì:
         Việc thiện là những việc lành, quên lợi mình để giúp đỡ kẻ khác và giúp đỡ cả loài vật. Các em làm việc thiện tức là các em thực hiện điều luật thứ ba của Oanh vũ là “Em thương người và vật”
     2.- Làm việc thiện bằng cách nào:
       Trước hết các em không làm bất cứ điều gì các em cho là xấu, là ác, không gây tai hại, khổ đau cho người và vật. Bước đầu khong làm việc bất thiện, tức là các em đã huân tập cho mình một đức tính tốt tiến dần thực hiện các việc thiện hằng ngày.
      a- Trong gia đình: các em phải biết kính mến,vâng lời cha mẹ, hòa thuận giúp đở anh chị và chăm sóc các em, nhằm trở thành con ngoan hiếu hạnh để cha mẹ vui lòng.
     b- Ngoài xã hội: Hằng ngày em gặp nhiều điều mà em có thể làm được như :
         - Dắt một ông lão qua đường,
 - Giúp miếng ăn cho một em bé đang đói,
 - Cứu một con vật bị nạn…
 - Tiết kiệm để đóng góp vào quỷ Từ thiện
 - Không bẻ hoa, ngắt lá, không xả rác nơi công cộng. v.v...
Các em chú ý là  chớ thấy việc thiện nhỏ mà không làm, chớ thấy việc ác nhỏ mà làm.
    3.- Nhật ký việc thiện:
         Một điều các em cần ghi nhớ , khi làm việc thiện là các em đã gieo trồng quả tốt, nên không được khoe khoang mà thể hiện sự chân thành của minh.
         Để tự mình soát xét việc làm hằng ngày của mình như thế nào, đã làm được việc thiện gì  vả đã làm  những điều gì chưa tốt các em đều phải viết vào nhật ký việc thiện.
        Có như vậy, mỗi khi xem lại em tự mình đánh giá được bản thân mình, và tự mình cảm nhận một niềm vui khi làm được nhiều việc tốt.
       Tóm lại:
       Đức Phật là bậc có tình thương bao la như biển cả. Vâng theo lời Phật dạy, chúng ta là Phật Tử nên phải làm việc thiện để tạo được phước lành
 
Chánh niệm
 
         Hội nghị chuyên đề 2006 quyết định lấy Gới-Định-Tuệ làm định hướng giáo dục cho GĐPT. Nên bài học Thiền Chánh niệm là rất cần thiết cho Đoàn sinh ngành Oanh, nên từ đây Chách niệm được đưa vào chương trình tu học cùa các ngành.
            1.- Chánh niệm là gì:
        Chánh niệm là tưởng niệm chân chánh, suy xét về Chánh Đạo, để hết tâm trí, hướng về một đối tượng ngay thẳng, tốt đẹp và không cho tâm trí suy nghĩ lung tung.
           2.- Vì sao phải thực hành chánh niệm:
     - Xưa kia Đức Phật đã thực hành chánh niệm, thiền định mà  giác ngộ, giải thoát.
     - Đối với người Phật tử, chánh niệm là nhớ nghĩ về tướng tốt, lời dạy của chư Phật, Bồ tát, Thánh tăng và nguyện noi theo.
      3.- Lợi ích của chánh niệm
        Nếu thực hành chánh niệm một cách đều đặn, đúng phương pháp sẽ mang lại lợi ích sau:
      - Trí nảo sang suốt, học đâu nhớ đó.
      - Có năng lượng làm vơi nỗi khổ của người
      - Sức khỏe tốt, ít bệnh tật
      Người phật tử thực tập chánh niệm sẽ huân tập tâm: từ bi, hỷ xả và luôn tinh tấn trong việc tu đem chúng ta về với sự sống an lạc, tự tại.
       4-Thực hành chánh niệm như thế nào:.-
Huynh trưởng hướng dẫn các em thực hành chánh niệm căn cứ vào tài liệu “Tìm vào thực tại của Hòa Thượng Thích Chơn Thiện
            Có thể nói chánh niệm là trái tim của sự thực tập. Có nhiều cách thực tập chánh niệm, trong phạm vi bài này chúng ta thực tập: thiền hành và thiền tọa.
     1. Thiền hành:  Bước đi khoan thai, thanh thản trong chánh niệm (tâm ung dung tự tại, nhớ nghĩ các hạnh tốt,…của Phật; chấp tay trước ngực, im lặng hoàn toàn).
     2. Thiền tọa: Thiền tọa gồm 3 giai đoạn: nhập, trụ, xuất (tổng cộng từ 10 phút đến 15 phút).
         (Có thể tiếp nối thiền hành hoặc thực hiện riêng).
               a). Nhập thiền:
               - Ngồi tư thế bán già hoặc kiết già.
           - Hai bàn tay chồng lên nhau, các đầu ngón tay vừa chạm nhau.
               - Lưng thẳng vừa phải, đầu hơi cúi.
               - Mắt mở 1/3, gương mặt bình thản, ngồi yên.
                - Thở bằng mũi, giữ cho hơi thở vào đến ngực hoặc vào sâu hơn một ít. Thở tự nhiên; đừng cố nín thở..
        - Thở như thế 3 lần, từ thô đến tế, từ mạnh rồi nhẹ dần.
        - Ngậm miệng môi và răng khít nhau, lưỡi để lên trên.
           - Từ đây về sau chỉ hít thở bằng mũi đều đều nhè nhẹ.
              b). Sổ tức quán:  Sổ là đếm, tức là hơi thở. Sổ tức quán là quán sát hơi thở ra vô, đếm từ 1đến 10.
           - Hít vào đếm 1, thở ra đếm 2…lần lượt đến 10, rồi trở lại bắt đầu từ 1.
              - Cứ đếm suốt thời gian tọa thiền. Khi đã thuần thục, ta sẽ qua giai đoạn tùy tức (theo dõi hơi thở).
              c). Xả thiền: Trước khi xả, đọc bài nguyện: “hồi hướng”.
         - Dùng mũi hít vào, miệng thở ra 3 hơi.
         - Động 2 bả vai, lên xuống mỗi bên 5 lần.
          - Động cái đầu cúi xuống, ngước lên 5 lần.
         - Xoay đầu sang phải, trái, mỗi bên 5 lần.
         - Xoa bàn tay nóng áp lên mắt 5 lần.
         - Duỗi 2 chân, các ngón tay vừa chạm các ngón
chân 5 lần
         - Ngồi yên vài phút rồi đứng dậy lạy Phật (nếu
ngồi trước chánh điện).
         Mỗi tuần sinh hoạt  thực hành chánh niệm cùng toàn Gia đình sau giờ lễ Phật 5 hoăc 10 phút. Khuyến khích các em thực hành chánh niệm ở nhà 5 phút trước khi đi ngủ hoặc sau khi thức dậy.
 
Bài thực tập số 3:
        Ôn lại bài tập số 2 (trong tài liệu cánh mền), chừng 5 phút trước khi đi vào phần thực tập số 3.
        Vừa theo dõi hơi thở vào, ra vừa nói thầm các câu ghi dưới đây, thế nào là câu hỏi dứt ở cuối mỗi hơi thở vào, ra.
Niệm thân:
         (1). Hơi thở vào dài, tôi biết hơi thở vào dài
Hơi thở ra dài, tôi biết hơi thở ra dài
         (2). Hơi thở vào ngắn, tôi biết hơi thở vào ngắn
Hơi thở ra ngắn, tôi biết hơi thở ra ngắn
         (3). Cảm giác thân hành tôi sẽ thở vô.
Cảm giác thân hành tôi sẽ thở ra.
         (4). An tịnh thân hành tôi sẽ thở vô.
An tịnh thân hành tôi sẽ thở ra.
           Lúc tập bài số ba này (từ đây trở đi), các em bỏ đi phần đếm số từ 1 đến 10, nhưng nỗ lực tăng thêm sự chú ý theo dõi hơi thở vào ra như ở bài tập số 2.
          Bài tập số ba này là thuộc phần Thân Niệm Xứ hay Niệm về thân. Ở đây chỉ thực tập phần rất đơn giản về niệm thân, về sau sẽ thực tập sâu hơn.
          Các em nhỏ trên 10 tuổi chỉ nên thực tập đến bài số 6, thời gian ngồi mỗi lần không kéo dài quá 20 phút.
         Các em chỉ cần thực tập mỗi ngày một lần vào buổi sáng sớm sau khi thức dậy, hay vào buổi tối, trước khi đi ngủ.
        Luyện tập như thế này sẽ tăng trưởng ký ức và óc quan sát tốt cho các em. Sức khỏe cũng được bảo đảm tốt. Tính năng động sẽ kềm chế bớt.
     
Ý nghĩa màu Lam
 
    1.- Nguồn gốc phát sinh:
       Để tạo sự đồng nhất của một tổ chức, người ta thường đòi hỏi các thành viên phải mặc áo quần đồng phục. Tùy theo mục đích của tổ chức, đồng phục cũng được chọn lựa để biểu lộ tinh thần của tổ chức đó.
       Trong kỳ trại họp bạn vào dịp Phật Đản năm Canh Dần (1950) , GĐPT Thừa Thiên đã chọn màu lam làm Đoàn phục cho trại sinh. Đây là cột mốc áo Lam chính thức ra đời. Và Gia Đình phật Tử Việt Nam chọn màu Lam cho màu áo của tổ chức.
      2.- Ý nghĩa màu lam:
     Màu Lam của Gia Đình Phật Tử có ý nghĩa sau:
    a.- Bình đẳng
          Tổ chức GĐPT gồm đủ mọi thành phần, từ một em bé lên năm đến các anh chị bảy tám mươi tuổi; từ một người lao động đến những người học rộng tài cao. Tất cả đều đến với nhau trong tinh thần bình đẳng, san sẻ từ cái vui đến cái khổ mà không bao giờ phân bì hơn thiệt.
    b.- Hòa đồng
       Màu lam là màu hòa hợp với thiên nhiên. Nếu một buổi trời nắng, màu lam làm dịu mát. Nếu một buổi sáng mùa đông lạnh lẽo, thì màu lam mang hơi ấm .
     c.- Tinh tấn và nhẫn nhục
      Màu lam là một màu dễ cảm mến. Người mặc áo màu lam vào mình cũng không thể nóng nảy, hoặc u buồn mà phải luôn luôn nhẫn nhục và tinh tấn trên đường tu học và giúp ích mọi loài.
     d.- Màu tổng hợp. tinh khiết:
      Màu Lam là màu tổng hợp các màu cơ bản, thể hiện sự tinh khiết thanh cao. Màu Lam còn được goi là màu khói hương gợi lên tính chất Đạo vị, thanh thoát
      3.- Thực hành:
     - Tôn trọng chiếc áo Lam.
     - Chỉ mặc áo Lam trong  buổi họp Đoàn, công tác Phật sự.
     - Khi đang mặc áo Lam phải luôn giữ lời nói và việc làm trong sạch.
       Tóm lại:
       Chiếc áo Lam của tổ chức mang một ý nghĩa thật cao quý. Màu Lam đã gắn bó với GĐPT hơn 60 năm qua, chúng ta hãnh diện khi được khoác lên mình chiếc áo mào Lam thân thương. Vậy các em hãy cảm nhận niềm vinh dự và một tình cảm đậm đà khi được mặc chiếc áo màu Lam của tổ chức GĐPT chúng ta.
 
Thuộc và hiểu bài Sám hối
 
    1.- Định nghĩa:  Sám là thú nhận lỗi lầm, Hối là hứa từ nay không tái phạm. Sám Hối là thú nhận lỗi lầm, và hứa không tái phạm.
    2.-  Giải thích từ ngữ:
      - Đệ tử: Là học trò, là con. Đệ tử là danh từ mà Phật Tử xưng hô với Chư Phật.
      - Kính lạy: Kính là tôn trọng, cung kính. Lạy là một hành động mà trán, hai tay và hai chân sát mặt đất. Kính lạy là cử chỉ tôn kính Tam Bảo.
      - Đức Phật Thích Ca: Đức Phật hiệu Thích Ca, vị đã sáng lập ra Đạo Phật, Giáo Chủ cõi Ta-Bà.
      - Phật A Di Đà: Vị Phật làm Giáo Chủ cõi Tịnh Độ.
      - Thập phương chư Phật:  Các Đức Phật ở muời phương (Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, trên, dưới).
       - Thánh Hiền Tăng: Các vị Bồ Tát, A La Hán, các vị Tăng Già tu hành chân chính.
       - Nghiệp chướng: Ý nghĩ, lời nói, hành động xấu ác.
       - Minh tâm kiến tánh: Sáng rõ chân tâm, thấy rõ thể tánh. Nghĩa là đã Giác ngộ.
       - Thần thông: Phép bí mật, chỉ các bậc Giác ngộ mới hiểu và làm được.
      - Tự tại: Không bị ràng buộc, chi phối bởi các hoàn cảnh chướng ngại chung quanh.
      3.- Phân đoạn bài Sám hối: Chia làm 3 đoạn
          a.- Từ câu: “Ðệ tử kính lạy đức Phật Thích
Ca……vô lượng Phật Pháp cùng Thánh Hiền Tăng”.
       Ðoạn này có nghĩa là: Người Phật tử kính lạy Phật Thích Ca, thập phương chư Phật và tất cả Thánh hiền Tăng.
          b.- Từ câu: “Ðệ tử lâu đời lâu kiếp, nghiệp chướng nặng nề……………..trí huệ sáng suốt, thần thông tự tại”.
        Ðoạn này có nghĩa là: Nhờ Phật dạy nên con biết được tội lỗi, xin sám hối, nguyện làm việc lành và xin Phật gia hộ.
          c.- Từ câu: “Ðặng cứu độ các bậc tôn trưởng, ……… tất cả chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo.
         Ðoạn này có nghĩa là: Con xin  hồi hướng và nguyện cứu độ thân bằng quyến thuộc và chúng sanh đều thành Phật.
  4.- Bài sám hối có các ý chính sau:
- Xin kính lạy Tam Bảo và thú nhận lỗi lầm đã làm từ nhiều kiếp trước đến nay.
       - Xin theo lời Phật dạy để tu tập, bỏ ác làm lành, cầu Phật gia hộ.
       - Xin hồi hướng cho các bậc tiền nhân, cha mẹ, anh, chị, em, bạn bè và tất cả chúng sanh đều thành Phật Đạo.
         Tóm lai:
      Sám Hối là bài kinh có ý nghĩa dễ hiểu Gia Đình Phật tử lấy bài kinh nầy làm bài kinh cơ bản  và tụng chính trong nghi thức tụng niệm của mình. Đọc tụng bài kinh nầy các em  phải cố gắng thực hiện ý kinh, làm lành lánh dữ. Như vậy sự đọc tụng mới có ý nghĩa và xứng đáng là đoàn sinh GĐ

Em đi sinh hoạt chuyên cần
 
     1.- Vì sao em đi sinh hoạt chuyên cần:
         Ðến với Ðoàn có nhiều ích lợi, được học được chơi, có anh tốt, chị hiền, có Bác Gia trưởng than thương, có bạn bè cùng trang lứa. Được quý thầy thương yêu đùm bọc, được gần Phật gần chùa. Là tổ ấm của các em trong ngày Chủ nhật.
        Vì vậy nên em phải cố gắng đi họp chuyên cần, hăng hái trong tất cả việc của Ðoàn để làm cho Ðoàn càng ngày càng mạnh, càng đông, càng vui.
      2.- Bài học ghi nhớ:
Mỗi tháng sinh hoạt bốn kỳ
Em đi sinh hoạt nhớ thì siêng năng
Đến Đoàn tu học chuyên cần
Có anh, có chị, bạn lành thiết thân
Dắt dìu học tập, thực hành
Theo lời Phật dạy phúc lành rắc gieo
Kính nhường dứt tánh mạn kiêu
Ích người , lợi vật, thương yêu mọi loài
Nhớ Đoàn, nhớ bạn, nhớ hoài
Em momg đến buổi vui tươi họp Đoàn
        3.- Thực hành
       Em cố gắng đi sinh hoạt chuyên cần, khuyến khích các bạn chuyên cần như em và luôn ngoan ngoãn vâng lời anh chị dạy bảo, nhường nhịn bạn bè, lo tu học cho tấn tới để Đoàn ngày càng phát triển vững mạnh.
 
 
Chuyện Tiền thân, mẫu chuyện Đạo:
 
       Chiếc cầu muôn thuở
 
         Trong một khu rừng xanh tươi thuộc núi Hy Mã Lạp Sơn, xứ Ấn Ðộ, có một cây xoài khổng lồ mọc cạnh bờ sông Hằng.
        Trên cây, có một đàn vượn cả ngàn con họp thành một quốc gia riêng biệt, do một vượn chúa thân hình đẹp đẽ, sức mạnh phi thường đứng đầu. Ðến mùa xoài trổ trái to, thơm, ngon đó là lương thực đủ dùng cho cả quốc gia vượn.
        Vượn chúa cẩn thận lắm, nó ra lệnh cho tất cả bầy vượn ăn hết trái xoài khi xoài còn xanh, không được đợi xoài chín, cả đoàn vâng lời làm theo. Nhưng rủi thay, một chuyện không may xảy đến. Một trái xoài to bị tổ kiến che lấp nên dần dà chín mùi rồi rụng xuống sông trôi theo giòng nước. Nước cuốn trái xoài chín vào trong hồ bơi của Vua xứ Ba La Nại, gặp đúng lúc nhà Vua đang tắm. Ðược quả xoài to chín thơm nên nhà Vua ăn thử lấy làm thích thú và hôm sau ra lệnh cho quân lính chèo thuyền theo dòng sông đi tìm chỗ cây xoài mọc.
        Sau ba ngày mệt nhọc nhà Vua và quân lính tìm được cây xoài vĩ đại ấy và nhìn thấy trên cây đàn vượn đang chuyền cành. Nhà Vua tức giận ra lệnh tàn sát đàn vượn đã hổn xược ăn hết xoài chín ngon trước nhà Vua.
       Nhưng trời đã sẩm tối, quân lính phải bao vây chờ hôm sau mới ra tay.
       Ðêm đó đàn vượn vô cùng hoảng sợ. Riêng vượn chúa lại rất bình tỉnh, nó lén đến cành cây ngã về phía dòng sông, lấy hết sức phóng qua khỏi bờ bên kia. Vượn chúa tìm được những đoạn dây và hết sức vui mừng nối lại rồi buộc một đầu vào gốc cây còn đầu kia buộc vào thân mình. Ðoạn vượn chúa dùng kết sức lực phóng về phía cành xoài với mục đích bắt thành chiếc cầu dây cứu đàn vượn. Rủi thay sợi dây ngắn một đoạn nên khi hai chân trước vừa bám được vào cành cây thì dây đã căng thẳng và chính thân của vượn chúa nối thế một đoạn dây.
        Vượn chúa ra lệnh cho cả đoàn vượn lần lượt sang sông. Bầy vượn ngần ngại vì phải dẫm lên mình vượn chúa. Nhiều con cảm động khóc nhưng tình thế bắt buộc đành phải trốn thoát sang sông. Con vượn cuối cùng khá lớn tên là Davadatta vốn ganh ghét vượn chúa nên nó dẫm mạnh lên mình của vượn chúa. Vượn chúa đau đớn gần muốn chết nhưng vẫn cắn răng chịu đựng để cứu con vượn gian ác ấy qua sông thoát chết.
       Qua được sông rồi, con vượn Devadatta nhìn lại lấy làm ân hận, rơi hai giòng lệ vì thấy vượn chúa lông lá tơi bời không cử động được nữa.
        Sáng dậy vua Ba La Nại truyền lệnh tiến quân, nhưng tất cả đều lấy làm lạ vì trên cây không còn con vượn nào cả. Nhìn lại chỉ thấy một chiếc cầu dây bắt ngang sông, từ mình một con vượn lớn. Các thợ rừng cho biết dó là con vượn chúa. Bấy giờ nhà Vua mới hiểu thấu đầu đuôi và tĩnh ngộ. Ngài nghĩ đến sự ích kỷ của mình chỉ vì những trái xoài mà định gây nên sự tàn sát thảm khốc. Ngài liền ra lệnh lui quân và tự tay vuốt ve săn sóc cho đến khi tĩnh lại.
       Sự hy sinh của vượn chúa làm cho nhà Vua hối cải sửa đổi cách trị dân và làm lành tránh ác.
 Vượn Chúa là tiền thân của Đức Phật Thích Ca
   
Con voi hiếu nghĩa
 
        Ngày xưa ở xứ Ba La Nại có một vị Vua thường dẫn lính vào rừng săn bắn. Một hôm nhà Vua thấy một con voi trắng tuyệt đẹp, vua bắt về sai lính trông nom cẩn thận và lo cho ăn uống sung sướng.
            Nhưng kể từ khi bị bắt, voi chỉ khóc đầm đìa không chịu ăn uống. Tên lính trông nom liền trình lên nhà Vua điều ấy. Vua liền tự mình đến chuồng và hỏi voi tại sao không ăn uống mà cứ khóc mãi như thế.
           Voi liền quỳ xuống thưa rằng:
            - Tâu bệ hạ, tôi còn cha mẹ già ở rừng xanh không thể đi kiếm ăn được, chỉ trông cậy vào mình tôi. Nay tôi sa cơ bị bắt, cha mẹ tôi chắc sẽ chết đói. Thà tôi chịu chết còn hơn sống mà không làm tròn hiếu đạo.
            Nghe xong nhà Vua động lòng thương mến thả cho voi về rừng. Voi quỳ xuống tạ ơn và hứa sẽ trở lại hầu hạ Vua sau khi nuôi dưỡng cha mẹ già đến khi qua đời. Xong voi vội vã chạy về rừng, nơi cha mẹ ở.
              Mười hai năm sau, khi Vua đang ngự tại triều, bỗng thấy con voi năm trước trở lại, thân thể gầy còm. Voi quỳ xuống thưa với nhà Vua là cha mẹ voi đã qua đời. Nhớ lời hẹn xưa voi trở về hầu hạ Vua.
           Nghe xong Vua khen con voi có hiếu nghĩa, biết giữ lời hứa nên sai người trông nom con voi quý đến già chết.
   Con voi ấy là tiền thân của đức Phật Thích Ca.
 
Mẫu chuyện Đạo
 
Thầy Tỳ kheo với con ngỗng
 
        Một Thầy Tỳ Kheo mang bình bát ghé một nhà giàu có để khất thực. Bà chủ nhà đang trò chuyện vô ý đánh rơi chiếc nhẫn xuống sàn nhà. Lúc đó có một con ngỗng đi qua và nuốt ngay chiếc nhẫn vào bụng. Khi chủ nhà biết mất chiếc nhẫn liền hỏi Thầy Tỳ Kheo có thấy rơi chỗ nào không, nhưng Thầy Tỳ Kheo vẫn im lặng không trả lời.
          Sanh nghi Thầy Tỳ Kheo nhặt và giấu chiếc nhẫn quý nên chủ nhà nhiếc mắng thậm tệ và đánh đập, nhưng Thầy Tỳ Kheo vẫn im lặng chịu đau không nói gì cả.
            Một lúc sau người nhà báo tin con ngỗng tự nhiên ngã ra chết. Bấy giờ Thầy Tỳ Kheo mới chậm rãi nói rằng:
         - Hồi nãy tôi thấy con ngỗng nuốt chiếc nhẫn của bà chủ. Chủ nhà cho người mổ ruột ngỗng và quả nhiên tìm thấy được chiếc nhẫn đã bị mất.
             Quá hối hận, chủ nhà liền sụp lạy Thầy Tỳ Kheo và lễ phép thưa rằng:
           - Trước đây Thầy thấy con ngỗng nuốt chiếc nhẫn, tại sao Thầy không cho con biết, con hỏi nhiều lần Thầy vẫn im lặng đến nỗi con xúc phạm đến thế, mà Thầy vẫn không trả lời?
            Thầy Tỳ Kheo chậm rãi nói:
          - Thà tôi bị nhiếc mắng, bị đánh đập mà giữ được đạo hạnh chứ nếu tôi nói cho bà biết thì con ngỗng ẽ bị sát hại, việc ấy không bao giờ kẻ tu hành dám làm.
 
         -----------------------------------------------------------------------------
 
                   Tài liệu tham khảo :
- Tài liệu tu học và huấn luyện của GĐPT.VN
- Tài liệu Mở mắt của  GĐPT Thừa thiên
- Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
- Tài liệu tu học GĐPT Hải ngoại
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Tác giả bài viết: Nguyên Nuyễn

Nguồn tin: GDPT TP Vũng Tàu

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thống Kê Truy Cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 21

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 19


Hôm nayHôm nay : 902

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 37735

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4036275

Giới thiệu

Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, vốn dĩ ngày xưa nó là một tỉnh, nhưng vì qua nhiều biến cố, đổi thay của lịch sử nên nó phải chịu cảnh nay tách, mai nhập. Từ Pháp thuộc, Vủng Tàu có tên là Cap Saint Jacque nằm trong Tỉnh Bà Rịa. Đến thời Ngô Đình Diệm, tỉnh được đặt tên là Phước Tuy, Cape Saint Jacque ( tức gọi là Ô Cấp ) đổi thành quận Vũng Tàu; ...............Do vậy mà Gia Đình Phật Tử của Tỉnh cũng thế và có hai nguồn rõ rệt: Vũng Tàu và Bà Rịa. Ban Biên Tập Website  xin lược qua quá trình hình thành và phát triển của Gia Đình Phật Tử tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.