Mục đích của Gia Đình Phật Tử Việt Nam:"Đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật thành Phật tử chân chính – Góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội."
00:44 ICT Chủ nhật, 19/11/2017

Trang nhất » Tin Tức » Tư Liệu

Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn

Đã xem: 3104

Thứ sáu - 22/05/2015 14:07
Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn

Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn

Về câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” tương truyền câu nói trên là của Đức Phật Thích Ca khi Ngài giáng sanh nơi nước Ấn Độ. Nhiều người hiểu câu nầy theo nghĩa thông thường là: “Trên trời dưới trời, chỉ có Ta là tôn quý”. Vì hiểu như thế nên nhiều người cho rằng Đức Phật quá tự cao tự đại, xem Trời Đất không có ai bằng.

天上天下惟我獨尊

Về câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” tương truyền câu nói trên là của Đức Phật Thích Ca khi Ngài giáng sanh nơi nước Ấn Độ. Nhiều người hiểu câu nầy theo nghĩa thông thường là: “Trên trời dưới trời, chỉ có Ta là tôn quý”.  Vì hiểu như thế nên nhiều người cho rằng Đức Phật quá tự cao tự đại, xem Trời Đất không có ai bằng.

Thực ra câu này chỉ là một phần câu, được ghi trong kinh Sơ-Đại Bản-Duyên trong bộ kinh Trường A Hàm quyển 1, một quyển kinh ngắn lượt thuật nhân duyên giáng sanh, thành đạo và giáo hoá của bảy Đức Phật trong thế giới Ta bà. Nguyên văn câu trên là “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn, nhứt thiết thế gian, sinh lão bệnh tử ” được dịch như sau: “Trên trời dưới trời, duy Ta tôn quý, Ta muốn cứu độ chúng sanh khỏi vòng sinh già bệnh chết”. Đó là lời đức Phật Thích Ca thuật lại khi đức Phật Tỳ Bà Thi, vị Phật thứ nhất bổ sanh thế giới Ta bà, ra đời nói lên lời như vậy, cũng giống như Ngài (Phật Thích Ca) đã nói lên lời như vậy,và “Ấy cũng là thông lệ của chư Phật”.

Xét về mặt ngôn ngữ, câu trên cho thấy rằng chỉ có Ngài là bậc tôn quý nhất trong bậc nhất trong loài người và trời, Ngài đã thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi và thị hiện cõi Ta bà để cứu độ chúng sinh thoát khỏi vòng sinh tử như Ngài. Tuy nhiên xét về mặt ý nghĩa của câu nói, chúng ta hay nên hiểu chử “Ta” trong câu “Duy có ta là tôn quý” không phải là cái Ta của Thái tử Tất Đạt Đa, một cái ngã của trăm ngàn chúng sinh khác. Chữ Ta ở đây chính là Phật tánh, là Chánh tâm chẳng hề sanh chẳng hề diệt, hoàn toàn thanh tịnh, là cái xa lìa tất cả những cái gọi là đối đãi. Cái ta hay cái ngã đó chính là chân ngã, chính là Pháp thân thường trụ, không bao giờ hoại, bao trùm khắp không gian và thời gian. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, phẩm Như Lai tánh, Đức Phật dạy: “Ngã tức là Như Lai tạng. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh tức là nghĩa của ngã. Nghĩa của ngã như vậy từ nào tới giờ thường bị phiền não che đậy, vì thế chúng sinh chẳng nhận thấy được”. Cũng trong kinh này (phẩm Tứ tướng) , Phật nói rõ “Thân của Như lai tức là Pháp thân, chẳng phải thân thịt máu mạch gân xương tuỷ hợp thành. Vì tuỳ thuận thế gian mà thị hiện vào thai mẹ, vì tuỳ thuận cách sanh của chúng sinh mà thị hiện làm đứa trẻ…”.

Thật ra, Phật tánh hay chân tâm hay chân ngã hay pháp thân là một cái gì khó hiểu, khó nhận biết và khó trình bày, vì thực chất nó nằm ngoài ngôn ngữ, ngoài thế giới tương đối hiện tượng. Chúng ta chỉ có thể biết qua nhận thức,qua kinh điển rằng: Phật tánh là một cái gì đó chỉ có người chứng ngộ mới biết được, là một cái gì đó “không sanh không diệt, không đi không đến, chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại, chẳng phải do nhân làm ra, cũng chẳng phải không nhân, chẳng phải tự tác, chẳng phải tác giả, chẳng phải tướng, chẳng phải không tướng, chẳng phải có danh, chẳng phải không danh,  chẳng phải danh sắc, chẳng phải dài ngắn, chẳng phải nhiếp trì trong âm, giới, nhập…”.

Khi nói về Phật tánh, Đức Phật thường dùng phương cách lìa tứ cú để dạy chúng ta, có nghĩa là lìa khỏi bốn kiến chấp hay bốn phạm trù thế gian tương đối: Có, không, cũng có cũng không, chẳng có cũng chẳng không. Ngoài ra Ngài cũng dùng tỷ dụ hay phương thức ngụ ngôn, hàm chứa những ý nghĩa thâm thuý, ám thị thí thuyết tuyệt đối mà chân lí tuyệt đối này không thể dùng lời trực tiếp mà giảng giải vì lời chỉ là khí cụ diễn đạt cái tư tưởng tương đối, cái có hình, có tướng trong thế giới nhị nguyên. Như khi nói về chân tâm Phật tánh, Ngài kể trong kinh Đại Bát Niết Bàn về một cô gái nghèo, trong nhà có kho vàng ròng mà không biết, đến khi có người khách khéo biết phương tiện chỉ cho chỗ cất giữ kho báu, cô trở nên giàu có. Người khách khéo biết phương tiện dụ cho Phật, cô gái nghèo dụ cho vô lượng chúng sinh bị các phiền não che đậy và kho vàng chỉ cho Phật tánh chân tâm. Câu chuyện gã cùng tử hay viên ngọc châu nơi đáy túi áo trong kinh Pháp Hoa cũng tương tự. (Phẩm Gã cùng tử)

Như vậy khi nói câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn” Đức Phật, lúc ấy là Thái tử Tất Đạt Đa, không nói về cá nhân Ngài, về cái thân tứ đại ngũ uẩn sinh diệt, mà nói về cái tâm chân thật, cái ngã chân thật của chúng sinh. Chính cái tâm đó mới tôn quý, mới tối thượng và cái tâm chân thật đó chính là tâm Phật mà ai ai cũng có, bất luận giàu nghèo sang hèn, bất luận màu da ngôn ngữ, bất luận tôn giáo chính kiến.

Quảng Chuyên
 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Thống Kê Truy Cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 41

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 38


Hôm nayHôm nay : 68

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 43045

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2955961

Giới thiệu

Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, vốn dĩ ngày xưa nó là một tỉnh, nhưng vì qua nhiều biến cố, đổi thay của lịch sử nên nó phải chịu cảnh nay tách, mai nhập. Từ Pháp thuộc, Vủng Tàu có tên là Cap Saint Jacque nằm trong Tỉnh Bà Rịa. Đến thời Ngô Đình Diệm, tỉnh được đặt tên là Phước Tuy, Cape Saint Jacque ( tức gọi là Ô Cấp ) đổi thành quận Vũng Tàu; ...............Do vậy mà Gia Đình Phật Tử của Tỉnh cũng thế và có hai nguồn rõ rệt: Vũng Tàu và Bà Rịa. Ban Biên Tập Website  xin lược qua quá trình hình thành và phát triển của Gia Đình Phật Tử tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.